(e-info) - Thay đổi lớn nhất của người phụ nữ ở thế kỷ 21 là biết phát huy sức mạnh nội tại của mình, tự tin, năng động và sáng tạo. Họ trở thành những người phụ nữ hiện đại ngày hôm nay do biết thích nghi thời đại, linh hoạt ứng dụng vào cuộc sống, lao động để có được thành công.
Thay đổi về thể chế chính trị đối với phụ nữ:
Trước đây, trong chế độ phong kiến và thực dân, người phụ nữ bị bóc lột và hành hạ, bị đẩy xuống tận cùng xã hội. Ngoài xã hội thì phụ nữ bị xem khinh như nô lệ. Ở gia đình thì họ bị kìm hãm trong xiềng xích “tam tòng”. Bởi vậy, phụ nữ là những người chịu nhiều thiệt thòi, cực khổ nhất trong xã hội.
Sau năm 1945, Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ghi rõ “đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện”. Như vậy, quyền công dân, quyền bình đẳng của người phụ nữ được xác lập và thực hiện. Họ trở thành những người phụ nữ mới, biết sống, biết cống hiến. Và với tinh thần công dân của một nước độc lập, phụ nữ Việt Nam đã đóng góp không nhỏ trí tuệ, sức lực... của mình vào sự nghiệp đấu tranh và xây dựng đất nước trong những năm kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ sau này.
Tính đến nay, Nhà nước đã ban hành 3 bộ luật dành cho phụ nữ: Luật Hôn nhân và gia đình; Luật bình đẳng giới; Luật phòng chống bạo lực gia đình và nhiều bộ luật chung có đề cập tới việc bảo vệ quyền lợi cho phụ nữ: Luật Lao động, Luật dân sự, Luật đất đai... Mặt khác, hệ thống pháp luật Việt Nam đã có nhiều quy định theo hướng tập trung vào việc nâng cao quyền năng kinh tế, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, nâng cao vị trí của phụ nữ từ nhóm đối tượng trở thành chủ thể tham gia vào các quá trình phát triển. Đặc biệt, phụ nữ Việt Nam có một tổ chức riêng của giới mình là Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, một tổ chức chính trị - xã hội đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của phái yếu phụ nữ.
Thay đổi về trình độ văn hoá:

Phụ nữ hiện đại chinh phục tri thức nhân loại và
đạt được nhiều danh hiệu học vị (Ảnh: internet)
Về trình độ văn hóa trước đây phụ nữ bị cấm đi học, chỉ có một số người trong dòng dõi quí tộc được học chữ nhưng do thầy dạy riêng, gần như 100% phụ nữ không biết chữ. Sau năm 1945, các lớp bình dân học vụ ra đời và từ đó phụ nữ đã thoát được mù chữ, có trình độ tham gia các hoạt động chính trị, văn hóa, xã hội.
Ngày nay, phụ nữ được tự do chọn lựa ngành học cho bản thân, việc tiếp thu kiến thức của nữ giới khiến cánh mày râu không khỏi ngỡ ngàng, thậm chí có nhiều người còn chinh phục được cả những khóa học thạc sĩ, tiến sĩ, nghiên cứu sinh tu nghiệp nước ngoài và các bậc học vị phó giáo sư và giáo sư. Người phụ nữ hiện đại biết cách mang tri thức phục vụ cho hoạt động nghề nghiệp và không ít trong số họ đã trở thành những nữ doanh nhân tài giỏi.
Về quan hệ giao tiếp:
Trước đây, phụ nữ chỉ giao tiếp trong phạm vi rất hẹp gia đình và làng xóm, không có các mối quan hệ rộng rãi, không được tham gia các tổ chức. Ngày nay, phụ nữ chứng tỏ khả năng giao tiếp của họ ở tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là các cơ quan ngoại giao của nhà nước. Sự hiểu biết, trình độ kiến thức sâu rộng cùng với cách ăn nói có duyên của phụ nữ giúp họ thành công trong việc xây dựng các mối quan hệ hòa bình, hữu nghị tốt đẹp.
Thay đổi về địa vị:
Tỷ lệ phụ nữ tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội và các tổ chức, doanh nghiệp ngày càng tăng, cả số lượng và chất lượng đều được cải thiện. Phụ nữ tham gia ngày càng nhiều hơn vào các vị trí trọng trách trong các cơ quan quản lý nhà nước từ Trung ương đến địa phương. Gần 2 thập kỷ qua, Việt Nam luôn có một Phó Chủ tịch nước là nữ. Trong Quốc hội, tỷ lệ nữ đại biểu 3 nhiệm kỳ gần đây đều đạt trên 25%. Tỷ lệ đại biểu nữ từ năm 2005 đến 2011 tại các cơ quan dân cử ở địa phương, như Hội đồng nhân dân cấp tỉnh tăng từ 22,3% lên 23,8%, cấp huyện tăng từ 20,1% lên 23,2%; cấp xã tăng từ 16,6% lên 20,1%. Mặc dù tỷ lệ này chưa cao, nhưng đã chứng minh được vai trò quan trọng của phụ nữ trong việc đảm nhận những trọng trách quan trọng trong bộ máy cơ quan Nhà nước từ Trung ương đến địa phương.

Phụ nữ tham gia ngày càng nhiều hơn vào các vị trí trọng trách
trong các cơ quan quản lý nhà nước từ Trung ương đến địa phương (Ảnh: internet)
Địa vị của phụ nữ không chỉ tăng lên trong xã hội mà còn tăng lên trong gia đình, do địa vị kinh tế, xã hội được cải thiện. Cụ thể, phụ nữ ngày càng được bình đẳng với nam giới trong quyền quyết định các công việc quan trọng. Từ chỗ người chồng chỉ huy và toàn quyền quyết định trước đây, giờ đã chuyển dần sang việc cả hai vợ chồng cùng bàn bạc quyết định và cùng chia sẻ công việc gia đình, chăm sóc giáo dục con cái.
Thay đổi về vóc dáng, sức khoẻ, thể lực:
Trước đây, với sự tự ti về bản thân, phụ nữ mặc nhiên co mình trong một cảm giác bé nhỏ, sợ sệt. Cuộc sống vất vả thiếu thốn, nên họ không có được mặt hoa da phấn, xinh đẹp, tươi tắn như bây giờ. Trong chiến tranh, kham khổ, vất vả phụ nữ chỉ quan tâm đến lao động và chiến đấu. Họ đẹp, khoẻ mạnh với những vẻ đẹp chân chất mộc mạc của cô du kích, chị dân công. Nhưng hiện nay phụ nữ biết hưởng thụ, biết làm đẹp, nên họ sở hữu một vóc dáng khác hơn, trẻ trung hơn, hiện đại hơn.

Tuổi thọ trung bình của phụ nữ Việt Nam tăng
đáng kể là vì nhu cầu chăm sóc sức khỏe của họ
ngày càng được xã hội quan tâm và đề cao (Ảnh: internet)
Sức khoẻ của phụ nữ ngày càng được quan tâm hơn. Phụ nữ cũng chủ động hơn trong việc chăm lo sức khoẻ cho mình. Đặc biệt những năm gần đây, các hoạt động chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ đã được quan tâm hơn rất nhiều, tình hình sức khỏe phụ nữ có nhiều cải thiện. Chính những yếu tố này tác động đến tuổi thọ trung bình của phụ nữ Việt Nam. Theo số liệu điều tra chuyên đề của Bộ Y tế, tuổi thọ bình quân của dân số Việt Nam năm 2005 là 71 tuổi; năm 2006 đạt 71,3 tuổi và năm 2008 đạt 71,8 tuổi. Ước tính đến năm 2010, tuổi thọ bình quân của phụ nữ Việt Nam đạt 72 tuổi.
Thay đổi về phong cách ăn mặc:
Đây là một thay đổi thể hiện về sự sáng tạo, hiện đại của phụ nữ Việt Nam. Trước đây, thời phong kiến, phụ nữ chỉ có váy đụp với gam màu nâu, đen. Những bộ đồ đẹp rực rỡ hơn như áo tứ thân, mớ ba mớ bảy thì chỉ thường được mặc vào những dịp lễ hội...Trang phục hàng ngày chỉ có quần nâu, thâm với chiếc áo tối màu. Trong chiến tranh, thiếu thốn mọi thứ, trang phục cũng vẫn những gam màu đó. Thời bao cấp mỗi người chỉ có được cấp 4m vải/năm, không có điều kiện cho chị em được mặc đẹp. Chỉ đến khi kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế, đời sống được nâng cao, mở rộng quan hệ thì vấn đề ăn mặc được quan tâm rất nhiều. Bây giờ phụ nữ có nhiều mẫu thời trang khác nhau phù hợp cho từng hoàn cảnh. Có nhiều nhà thiết kế thời trang riêng cho nữ giới phù hợp với công việc: Thời trang công sở, Áo dài, Áo cưới, dạ hội… để làm cho phụ nữ ngày nay đẹp hơn, tự tin hơn trong mọi hoạt động của mình.
Với những chuyển biến tích cực trên, người phụ nữ Việt Nam hiện đại trong thời kỳ mới nếu được sự hỗ trợ tích cực từ phía khách quan, cùng với những nỗ lực chủ quan sẽ có cơ hội đóng góp ngày càng nhiều cho xã hội, tạo vị thế cho bản thân. Và hi vọng là họ sẽ không còn gặp những trở ngại về giới trong việc tìm cho mình một cuộc sống hạnh phúc do những quan điểm không phù hợp nào đó, không còn phải băn khoăn trăn trở trong sự lựa chọn giữa sự nghiệp và gia đình, không còn gặp những rào cản không cần thiết từ các chính sách xã hội. Phụ nữ – dù trong thời đại nào cũng luôn có những vị trí không thể thay thế, bởi vì “Bên cạnh ánh sáng lung linh của các vì sao còn có ánh sáng êm dịu và huyền bí của tâm hồn người phụ nữ” (Victor Hugo).
Nhu Mi - e-info
Bình luận (0 đã gửi)