Quantcast

Công luận

Góc nhìn đa chiều về ông Đào Văn Hưng
10/02/2012 08:59 , 2 Phản hồi

(Einfo) - Trong thời gian ông Đào Văn Hưng làm Chủ tịch, EVN chịu không ít điều tiếng về chuyện đầu tư ngoài ngành, nợ nần và làm ăn thua lỗ. Tuy nhiên, cựu Chủ tịch EVN từng được khen ngợi là một quản lý giỏi.

Trong 2-3 năm trở lại đây, hoạt động của Tập đoàn Điện lực gặp rất nhiều khó khăn và chịu nhiều chỉ trích. EVN gặp không ít lời đàm tiếu về chuyện đầu tư ngoài ngành, nợ nần và làm ăn thua lỗ, trong đó xôn xao nhất phải kể đến hoạt động kém cỏi của Công ty Thông tin viễn thông điện lực (EVN Telecom). Kỳ vọng của EVN là việc đầu tư ra ngoài ngành, trong đó có viễn thông, sẽ hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh chính là sản xuất điện đang bị mất cân đối về tài chính. Tuy nhiên kết quả lại không như mong đợi.

 


Cựu Chủ tịch Tập đoàn Điện lực Việt Nam Đào Văn Hưng. Ảnh: EVN.


Theo báo cáo của kiểm toán, Tập đoàn này đầu tư 100% vốn vào EVN Telecom, với số vốn đầu tư tính đến 31/12/2010 lên tới 2.442 tỷ đồng nhưng doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ năm 2010 đã giảm tới 42% so với năm 2009. Kết quả kinh doanh trong 3 năm gần nhất của EVN Telecom đi xuống rất nhanh. Nếu như năm 2008 lợi nhuận đạt được 93,8 tỷ đồng thì 2009 giảm còn 8,3 tỷ đồng và chuyển thành lỗ trên 1.050 tỷ đồng năm 2010. Kết quả trên còn chưa tính toàn bộ chi phí thiết bị đầu cuối chờ phân bổ từ năm 2006-2008. Các khoản này được EVN chuyển cho các tổng công ty điện lực trực thuộc, số tiền hơn 1.000 tỷ đồng.

Báo cáo của Đảng ủy khối doanh nghiệp Trung ương cho thấy, Tập đoàn Điện lực Việt Nam đầu tư ra ngoài ngành lớn với 3,27% vốn chủ sở hữu, tương đương 2.100 tỷ đồng vào 4 lĩnh vực nhạy cảm gồm bất động sản, bảo hiểm, ngân hàng và tài chính. Trước sức ép từ phía dư luận, trong năm 2012, EVN cam kết sẽ tái cấu trúc toàn bộ tập đoàn, thoái vốn trong các lĩnh vực bất động sản, chứng khoán và ngân hàng.

Trong khi đó, EVN liên tiếp bị lỗ trong năm hai năm gần đây. Tổng số lỗ của EVN năm 2010 trên 8.400 tỷ đồng; tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu âm (-) 14,8%; tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản âm (-) 2,78%. Riêng khâu sản xuất, kinh doanh điện lỗ trên 10.500 tỷ đồng. Bước sang năm 2011, EVN cũng bị lỗ tới 3.500 tỷ đồng.

Tuy nhiên, một lãnh đạo cấp cao của EVN giải thích, các khoản lỗ chủ yếu do chinh sách, do giá bán điện thấp hơn giá thành. Ông chia sẻ, đầu năm khi vào mùa khô, EVN chịu nhiều sức ép, phải huy động mọi cách, chạy bằng mọi nguồn giá cao giá thấp để đủ điện (huy động nhà máy điện chạy dầu và mua điện ngoài hệ thống với giá cao cấp 3-4 lần giá bán bình quân). Nhưng cuối năm nếu lỗ, xã hội lại đổ cho việc điều hành yếu là không công bằng.

Không chỉ bị lỗ, Tập đoàn Điện lực Việt Nam còn nợ hàng loạt "ông lớn". Theo tính toán, số tiền mà nhà đèn nợ Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PetroVietnam), Tập đoàn Công nghiệp Than Khoáng sản Việt Nam (Vinacomin) và các hợp đồng mua bán điện lên gần 10.000 tỷ đồng. Thậm chí Điện lực Hiệp Phước (một đơn vị bán điện cho EVN) còn dọa cắt điện vì EVN không thanh toán khoản nợ hàng trăm tỷ đồng.

Câu chuyện nợ nần của ngành điện được nhắc đến tư hồi tháng 4 và hầu như trong các cuộc giao ban của Bộ Công Thương luôn được đề cập. Lãnh đạo EVN nhiều lần phải "rát mặt" vì bị thúc nợ song chưa lần nào chính thức công khai về kế hoạch dàn xếp. Nhà đèn cũng thẳng thắn cho biết do phải chịu khoản lỗ chênh lệch tỷ giá và đang "rất hoàn cảnh" nên chưa thể trả được.

 


EVN Telecom là khoản đầu tư sai lầm lớn dưới thời ông Đào Văn Hưng. Ảnh: T.S.


Tháng 7/2010, cựu chủ tịch Đào Văn Hưng lại gây xôn xao với tuyên bố "có cắt điện hay không chỉ Ngọc Hoàng mới trả lời được" trước câu hỏi về việc EVN liên tục cúp điện gây ảnh hưởng tới đời sống của nhân dân cũng như hoạt động sản xuất kinh doanh của nhiều doanh nghiệp.

Trong thời gian làm Chủ tịch EVN, ông Hưng cũng kiêm rất nhiều chức vụ làm đại diện phần vốn góp của tập đoàn tại nhiều công ty con và được hưởng các khoản thu nhập lớn. Đây cũng là nguyên nhân khiến vị cựu lãnh đạo này chịu nhiều tai tiếng. Trả lời báo chí về khoản thu nhập "khủng" mà Chủ tịch EVN nhận được từ các công ty con, ông Đinh Quang Tri - Phó tổng giám đốc tập đoàn cho biết, tất cả các khoản thù lao được nhận nhờ chức danh kiêm nhiệm ở các đơn vị EVN góp vốn thì người đại diện vốn phải nộp về tập đoàn vào một quỹ chung.

Sau đó, EVN căn cứ vào hoạt động của từng công ty để chia khoản thù lao này cho những người đại diện đó căn cứ theo nhiệm vụ hoàn thành của từng năm. Với những người hoạt động tốt thì sẽ được thưởng từ nguồn cổ tức đưa về tập đoàn.

Trong số các chức danh là người đại diện vốn ở các công ty con, phải đến tháng 5/2011, ông Hưng mới thôi giữ chức thành viên hội đồng quản trị Ngân hàng An Bình khi có quy định mới về việc thành viên HĐQT của tập đoàn Nhà nước không được kiêm nhiệm chức danh quản lý tại doanh nghiệp thành viên.

Trao đổi với VnExpress.net, một nguồn tin từ EVN chia sẻ, dư luận cần công tâm hơn khi đánh giá kết quả hoạt động của tập đoàn cũng như ông Đào Văn Hưng. Vị này tâm sự, trong bối cảnh khó khăn, EVN vẫn làm được nhiều thứ đáng tự hào như cung ứng điện đầy đủ, đảm bảo hoạt động cho cả nền kinh tế xã hội. Ngành điện đã đưa điện về nông thôn góp phần xóa đói giảm nghèo. Theo đó, 96% hộ dân nông thôn, 100% số huyện, trên 98% các xã có điện, một tỷ lệ cao hơn nhiều nước như Thái Lan, Ấn Độ, Philippines. "Đây chính niềm từ hào của Tập đoàn điện lực Việt Nam, nhưng ít được ai ghi nhận", ông chia sẻ.

Ông Đào Văn Hưng, nguyên là Tổng giám đốc Tổng công ty Điện lực Việt Nam, được bổ nhiệm giữ chức Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Điện lực Việt Nam từ tháng 8/1998 đến tháng 6/2000. Từ tháng 7/2000, ông Hưng lại nắm chức tổng giám đốc, rồi trở lại ghế Chủ tịch HĐQT từ 2006 đến tháng 2/2012.

Tính từ năm 1995 đến năm 2008, lợi nhuận của EVN đạt gần 32.000 tỷ đồng, nộp ngân sách hơn 38.000 tỷ, giá trị tài sản cố định đến cuối năm 2008 đạt hơn 192.000 tỷ, tăng gần gấp 7 lần năm 1995. Năm 2008, doanh thu EVN đạt hơn 67.500 tỷ đồng, tăng khoảng 800% so với năm 1995.

Ông Hưng cùng nhiều lãnh đạo chèo lái EVN đã từng được cố Bộ trưởng Bộ Điện lực Phạm Khai khen ngợi :"Đó là những nhà quản lý giỏi, được đào tạo từ thực tế. Chúng ta cần liên tục đào tạo một cách hệ thống những lớp quản lý trẻ mới, có tri thức, có trình độ như vậy".

 

VnExpress

Đánh giá bài viết này
0
Bình luận (2 đã gửi)
avatar
Trịnh Thu Hiền 17/02/2012 23:37

Tập đoàn Điện lực Việt Nam tham gia vào lĩnh vực kinh doanh viễn thông, EVNTelecom có nhiều lợi thế hơn các đối tác khác như: sử dụng các tuyến cáp quang trên đường dây 500 KV, 220KV, 110 KV đầu tư bằng nguồn vốn dự án điện; có sẵn hạ tầng cột điện treo cáp viễn thông; tận dụng đất đai và phòng ốc sẵn có của ngành điện để cải tạo hoặc xây mới showroom bán hàng hoặc làm phòng máy; đội ngũ nhân viên ngành điện hùng hậu vừa là khách hàng sử dụng dịch vụ của ngành, vừa tuyên truyền quảng bá dịch vụ của ngành ; đặc biệt là dựa lợi thế thương hiệu lớn EVN.

Tuy nhiên sau 5 năm kinh doanh viễn thông, EVNTelecom đến bên bờ vực phá sản và Chính phủ đã phải điều chuyển nguồn vốn, cơ sở vật chất và con người sang để Viettel quản lý với mục đích đảm bảo quyền lợi cho khách hàng và công ăn việc làm cho nhân viên EVNTelecom. Nhà mạng Viettel cũng đã gấp rút chuyển đổi khách hàng có nhu cầu chuyển sang mạng Viettel và sau ngày 31/3/2012, toàn bộ thuê bao EVN chưa chuyển đổi sang mạng Viettel sẽ ngưng dịch vụ.

Nhà mạng EVNTelecom được nhiều ưu ái từ Tập đoàn mẹ EVN như: cấp 4.500 tỷ để mua thiết bị đầu cuối nhưng các Tổng công ty Điện lực chịu 45% chi phí và sau khi EVNTelecom chi hết số tiền này thì bắt đầu từ năm 2009 các Tổng công ty Điện lực chịu trách nhiệm đầu tư 100% thiết bị đầu cuối; đơn giá hạ tầng cáp quang, cột anten, nhà trạm các Tổng công ty Điện lực cho EVNTelecom thuê tính theo đơn giá giản khấu hao 15 năm và không tính lãi vay.

So với các nhà mạng khác, Tập đoàn EVN có đội ngũ nhân viên làm công tác viễn thông rất hùng hậu, thời kỳ cao điểm là năm 2010 với số nhân viên lên tới 13.000 người. Năm 2010, Tập đoàn EVN chấn chỉnh công tác viễn thông với các biện pháp như: đưa ra quy chế người đứng đầu, bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo chuyên trách viễn thông tại các Tổng công ty Điện lực và yêu cầu các Tổng công ty Điện lực bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo chuyên trách viễn thông tại các Công ty Điện lực; cho phép tuyển dụng thêm nhân viên làm viễn thông để bổ sung thêm cho các bộ phận sẵn có và thành lập thêm các tổ chuyên trách viễn thông tại Điện lực. Bên cạnh đó, vượt qua năm suy thoái kinh tế 2009 và phải tăng trưởng trở lại năm 2010, ngoài cung cấp dịch vụ 3G, Tập đoàn EVN thực hiện chiến lược Internet cáp quang FTTH.

Thế nhưng, doanh thu và lợi nhuận của EVNTelecom vẫn tiếp tục giảm sút. Nếu như năm 2008, đơn vị này còn đạt doanh thu tới 3.705,6 tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế 93,8 tỷ đồng thì năm 2010 doanh thu chỉ còn 2.120,6 tỷ đồng và chuyển qua lỗ 1.057,7 tỷ đồng. Bước qua năm 2011, EVNTelecom mất khả năng thanh toán, mỗi tháng phải treo nợ 176 tỷ đồng.

Thất bại lĩnh vực kinh doanh viễn thông của Tập đoàn EVN có nhiều nguyên nhân, trong đó có những nguyên nhân:

Thứ nhất là nhân lực: đội ngũ làm công tác viễn thông đông nhưng không tinh và bố trí nhân lực chưa hợp lý.

Ban VT&CNTT của Tập đoàn EVN là đơn vị tham mưu cho lãnh đạo Tập đoàn EVN về công tác viễn thông nhưng có đội ngũ nhân lực không đủ mạnh. Trong hội nghị công tác viễn thông nhiều đơn vị đã đề nghị Ban VT&CNTT của Tập đoàn EVN phải đủ mạnh có thể đưa ra phương án và các đơn vị cấp dưới cứ thế thực hiện; không như tình trạng hiện nay Tập đoàn EVN cứ giao nhiệm vụ, giao chỉ tiêu còn các đơn vị phải “lò mò” tìm phương án thực hiện.

EVNTelecom là đơn vị thực hiện các nhiệm vụ như: xây dựng phương án kinh doanh trình lên Tập đoàn EVN; đầu mối nhập thiết bị đầu cuối; chăm sóc khách hàng gián tiếp từ xa; vận hành tổng đài; vận hành mạng đường trục trong nước và Quốc tế. Một yếu kém lớn nhất của EVNTelecom là không đưa ra được chiến lược thích hợp tạo rào cản khi hai nhà mạng VNPT và Viettel tham gia thị trường điện thoại cố định không dây vào cuối năm 2008.

Mạng CDMA 450 MHz có nhiều khuyết điểm đối với dịch vụ di động nhưng có rất nhiều ưu điểm đối với dịch vụ cố định không dây. EVNTelecom cung cấp dịch vụ cố định không dây, cộng với dịch vụ gia tăng Internet không dây trên mạng CDMA 450 MHz đã tạo ra khác biệt và chính là độc quyền trên thị trường. Tuy nhiên khách hàng có nhu cầu sử dụng Internet chưa đến 1%, còn chủ yếu là khách hàng bình dân chỉ có nhu cầu nghe gọi. Thế thì, đáng lẽ ra EVNTelecom phải đặt hàng 90% máy điện thoại cố định không dây chỉ cần có chức năng nghe gọi có giá 6 đến 7 trăm ngàn đồng mỗi máy. Thế nhưng trái lại, EVNTelecom đặt máy không dây loại cao cấp có rất nhiều chức năng có giá 2 đến 3 triệu đồng mỗi máy. Máy điện thoại có giá quá cao khách hàng không thể mua được máy và không phát triển được khách hàng.

Nhà mạng không phát triển được khách hàng thì không có doanh thu, đồng thời ứ động vốn đầu tư thiết bị đầu cuối và EVNTelecom đành phải thực hiện gói E-COM doanh nghiệp, tặng máy điện thoại không dây cho khách hàng là doanh nghiệp, nhưng kèm theo điều kiện sử dụng tối thiểu 2 năm, cước phát sinh hàng tháng tối thiểu hai trăm ngàn đồng. Giai đoạn này cứ cho máy ào ào miễn là có dấu doanh nghiệp, các cộng tác viên của EVNTelecom giành giật nhau cho máy, có cộng tác viên một ngày có thể cho được 100 máy với tiền hoa hồng 6 triệu đồng. Do không quản lý được đội ngũ cộng tác viên dẫn đến cộng tác viên phát triển thuê bao một cách tuỳ tiện, có nhiều thuê bao không có địa chỉ. Thực hiện gói E-COM doanh nghiệp một thời gian phải ngừng lại, nguyên do doanh thu thấp không đủ cho chi phí thiết bị đầu cuối giá cao. Tuy nhiên quý III/2008, VNPT và Viettel tham gia thị trường máy điện thoại cố định không dây với chính sách tặng máy cho khách hàng nên EVNTelecom cũng phải tặng máy cho khách hàng.

EVNTelecom biết VNPT và Viettel đang thử nghiệm điện thoại cố định không dây, đáng lý ra EVNTelecom nên đặt máy không dây giá rẻ có giá 6 đến 7 trăm ngàn đồng tặng cho khách hàng để phát triển thuê bao chiếm lĩnh thị trường. Thế nhưng EVNTelecom cứ đặt máy giá cao đã không phát triển được khách hàng, nhưng đến khi VNPT và Viettel cung cấp dịch vụ không dây với máy điện thoại chỉ có giá 6 trăm ngàn đồng nên hai nhà mạng này thực hiện cuộc đua tặng máy và tặng thuê bao thế thì EVNTelecom cũng phải tặng máy giá cao, nhưng đã muộn.

EVNTecom có một yếu kém nữa là cán bộ vận hành mạng. Dự án mở rộng mạng CDMA giai đoạn 5 đã hoàn thành lắp đặt thiết bị BTS và thiết bị truyền dẫn vào đầu quý IV/2008. Tuy nhiên do EVNTelecom thiếu nhân viên cấu hình trạm dẫn đến cuối quý I/2009 các trạm BTS mới đưa vào hoạt động. Trong khi đó các trạm BTS của Viettel lắp đặt sau, chưa thi công cáp quang nhưng Viettel thuê truyền dẫn kênh vệ tinh có tốc độ 128kb/s để đưa trạm vào hoạt động với mục đích phát triển khách hàng, mặc dù truyền dẫn vệ tinh tốc độ thấp dẫn đến chất lượng dịch vụ không được tốt.

Công ty Điện lực tỉnh là đơn vị trực tiếp phát triển khách hàng, chăm sóc khách hàng, thu cuớc, vận hành và xử lý sự cố hệ thống viễn thông nội tỉnh. Trung bình mỗi Công ty Điện lực biên chế khoảng 70 nhân viên làm trực tiếp công tác viễn thông, thế nhưng công tác phát triển khách hàng chủ yếu giao cho các Điện lực huyện và Điện lực huyện lại giao chỉ tiêu cho công nhân điện. Trung tâm Viễn thông Điện lực tỉnh được biên chế khoảng 20 nhân viên đa số có trình độ đại học. Tuy nhiên nhân lực bố trí không hợp lý, cuối cùng tất cả mọi công việc từ chăm sóc khách hàng, thu nợ cước khó đòi, kéo cáp phát triển thuê bao, chạy máy phát điện khi mất điện lưới cũng là công nhân điện, còn Trung tâm Viễn thông Điện lực chủ yếu thực hiện công việc tổng hợp và báo cáo.

Nhiều kỹ sư điện làm điện lâu năm nhưng không có chức vụ nên xin qua làm viễn thông để lên chức. Tuy nhiên không có chuyên môn nên không làm việc được và kỹ sư điện được gửi đi đào tạo chuyên ngành viễn thông, có nhiều kỹ sư điện mới học xong thêm chuyên ngành viễn thông thì EVNTelecom phá sản. Đơn vị thiếu kỹ sư điện thì phải tuyển mới nhưng không làm việc tốt hơn kỹ sư điện làm lâu năm.

Thứ hai là chọn sai công nghệ: công nghệ CDMA 450MHZ có một số ưu điểm nhưng đa số là khuyết điểm.

Công nghệ CDMA 450 MHz rất ít nhà mạng trên thế giới sử dụng và chỉ sử dụng cung cấp dịch vụ cố định không dây, dịch vụ di động CDMA 450 MHz chẳng qua là tận dụng hạ tầng sẵn có, chất lượng dịch vụ di động rất kém và chỉ có nhân viên ngành điện sử dụng một cách ép buộc. Khi EVNTelecom chuyển giao cho Viettel, nhiều lãnh đạo ngành điện cũng bỏ luôn đầu số 096.

Nhà mạng EVNTelecom sử dụng công nghệ CDMA 450MHz cũng do lịch sử. Lúc đầu Tập đoàn EVN chỉ được cấp giấy phép làm điện thoại cố định, với việc chọn lựa công nghệ CDMA 450 MHz có vùng phủ sóng rộng cung cấp dịch vụ cố định không dây sẽ tiết kiệm đầu tư. Tuy nhiên thiết bị thiết lập mạng cũng như thiết bị đầu cuối CDMA 450 MHz có ít nhà sản xuất dẫn đến giá cao. Nhà mạng Viettel có thiết bị thiết lập mạng GSM chiếm 25% tổng mức đầu tư, còn nhà mạng EVNTelecom giá thiết bị thiết lập mạng CDMA 450 MHz đắt hơn nhiều lần.

Công nghệ CDMA 450 MHz bị can nhiễu và khả năng xuyên thủng kém dẫn đến chất lượng dịch vụ tại các thành phố lớn rất kém. EVNTelecom khi thử nghiệm đã phát hiện ra vấn đề này, đáng lý ra EVNTelecom nên phân vùng cung cấp dịch vụ và phân khúc thị trường. Đối với dịch vụ di động, EVNTelecom nên xin cấp giấy phép công nghệ GSM 1800.

Thứ 3 là thực hiện đầu tư quá chậm: EVNTelecom làm vài trăm trạm bằng nhà mạng khác làm vài ngàn trạm.

Tập đoàn EVN không phân cấp rõ trong đầu tư viễn thông. Dự án này hạ tầng viễn thông giao cho EVNTelecom đầu tư, dự án khác lại giao hạ tầng viễn thông cho các Tổng công ty Điện lực, Tổng công ty Truyền tải đầu tư. Sau đó các đơn vị được đầu tư lại phân cấp tiếp, dự án này giao cho Ban này thực hiện dự án, dự án khác lại giao cho Công ty Điện lực thực hiện dự án.

Đơn vị khi được thực hiện dự án phải từ từ xem cho đơn vị nào làm tư vấn thiết kế, đơn vị nào thi công và đơn vị nào làm tư vấn giám sát. Quan trọng nhất tối ưu vùng phủ sóng là khảo sát quy hoạch thiết kế vị trí đặt trạm phát sóng. Nhiệm vụ quy hoạch trạm phát sóng được giao cho Trung tâm Tư vấn Thiết kế EVNTelecom và đơn vị này cũng làm qua loa rồi giao lại cho các Công ty Điện lực tỉnh. Nhân viên Điện lực cứ thế tha hồ di chuyển trạm đến vị trí đất mua được hoặc vị trí đất của người quen. Điển hình là dự án hạ tầng 3G giai đoạn 2, đất nhân viên Điện lực đầu tư cho thuê lắp đặt trạm quá nhỏ phải hạ chiều cao cột anten. Theo tiêu chuẩn của các nhà mạng khác chiều cao lắp đặt sector tại thành phố Đà Nẵng là 36m, khu vực mật độ thuê bao càng lớn thì giảm chiều cao lắp đặt sector. Thế nhưng, cột anten do các Công ty Điện lực đầu tư ở vùng nông thôn cũng chỉ cao 20m.

Thất bại viễn thông của Tập đoàn EVN có rất nhiều nguyên nhân, người đứng đầu Tập đoàn là Chủ tịch HĐQT chịu trách nhiệm quyết định đầu tư và bổ nhiệm các lãnh đạo chủ chốt phụ trách công tác viễn thông. Theo khách quan phải dựa vào kết quả kinh doanh viễn thông của từng đơn vị để truy trách nhiệm cụ thể từng cá nhân và tập thể.

avatar
Mai Thảo 18/02/2012 11:52

Tập đoàn Điện lực Việt Nam kinh doanh thua lỗ nặng lĩnh vực viễn thông, EVNTelecom mất khả năng chi trả. Trước tình hình đó, Chính phủ vội vàng chuyển EVNTelecom sang Viettel quản lý. Nhằm mục đích, Viettel có thể gánh vác các khoản nợ của EVNTelecom, đảm bảo quyền lợi khách hàng và đối tác của EVNTelecom, đảm bảo việc làm cho trên hai ngàn CBCNV EVNTelecom.

Tập đoàn Viettel ngay sau khi tiếp nhận EVNTelecom đã triển khai chuyển khách hàng EVN sang mạng Viettel và sau 31/3/2012 các khách hàng EVN chưa chuyển qua mạng Viettel sẽ bị ngưng dịch vụ. Tuy nhiên đầu số 096 mang tiếng là “đầu số nợ”, là “đầu số xui xẻo” nên cũng rất ít nhân viên ngành điện giữ lại đầu số này và ngay chính lãnh đạo Điện lực cũng bỏ luôn đầu số 096. Bên cạnh đó, cung cấp dịch vụ điện thoại cố định ngoài Viettel còn có nhà mạng VNPT, còn cung cấp dịch vụ Internet và kênh thuê riêng thì có thêm FPTTelecom. Do vậy, khách hàng EVN cũng không mặn mà chuyển sang mạng Viettel và chờ khi nhà mạng Viettel cắt dịch vụ thì sẵn có các nhà mạng khác như VNPT, FPTTelecom tới tận nhà khách hàng để chuyển mạng.

Mục đích Viettel chuyển toàn bộ khách hàng EVN sang mạng Viettel là để giảm chi phí. Nguyên do, toàn bộ thiết bị đầu cuối của EVNTelecom đã chuyển sang Điện lực nên thiết bị đầu cuối cho khách hàng mượn là tài sản của Điện lực. Bên cạnh đó, đa số tài sản hạ tầng cáp quang, cột anten và nhà trạm là của Điện lực và cho EVNTelecom thuê; thiết bị DSLAM, bộ thuê bao đầu xa, cáp đồng, cáp quang FTTH, switch quang, converter, modem quang phục vụ cung cấp dịch vụ Internet và điện thoại cố định là tài sản Điện lực. Đặc biệt Tổng công ty Điện lực miền Bắc đầu tư luôn mạng lõi, hệ thống quản lý băng thông, hệ thống tính cước để cung cấp dịch vụ Internet và kênh thuê riêng.

EVNTelecom sau khi sáp nhập vào Viettel, nhà mạng Viettel bỏ luôn mạng CDMA, mạng truyền dẫn nội tỉnh của EVNTelecom và tiến hành tháo dỡ thu hồi thiết bị. Bên cạnh đó, Viettel cũng tháo dỡ thiết bị mạng 3G của EVNTelecom và di chuyển đến vị trí lắp đặt mới phù hợp với quy hoạch mạng 3G của Viettel.

Như vậy, giá trị tài sản khổng lồ gồm cáp quang, cột anten, nhà trạm của các Tổng công ty Điện lực đầu tư không biết xử lý thế nào. Tuy nhiên đối với nhà mạng VNPT, Viettel thì tài sản này không có ý nghĩa nhưng nó rất hữu ích cho các nhà mạng mới.

Cột anten do các Công ty Điện lực đầu tư đa số có chiều cao tuân thủ tiêu chuẩn Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh ban hành: thành phố cột anten có chiều cao tối thiểu 30m (thường là các công ty Điện lực đầu tư cột anten có chiều cao 36m), nông thôn cột anten có chiều cao tối thiểu 42m. Tất nhiên cũng có một số Công ty Điện lực đã xảy ra tình trạng nhân viên đầu cơ đất cho thuê lắp đặt cột anten và đất có diện tích nhỏ nên phải lắp cột anten chỉ có chiều cao 20m, tuy nhiên đó chỉ là thiểu số.

Trước tình hình này, Chính phủ nên phải có cơ chế linh động cho phép các Tổng công ty Điện lực bán tài sản viễn thông để thu hồi vốn đầu tư. Nếu không, Tổng công ty Điện lực vừa phải tốn kém chi phí tháo dỡ cột anten và nhà trạm, chi phí bồi thường hợp đồng cho các hộ gia đình cho thuê mặt bằng.

Nếu như Lãnh đạo Tập đoàn EVN sang suốt chỉ để một mình EVNTelecom kinh doanh viễn thông và doanh nghiệp này phá sản thì Tập đoàn EVN chỉ mất đồng vốn đã đầu tư vào EVNTelecom. Tuy nhiên so sai lầm, lãnh đạo Tập đoàn EVN là bắt buộc Tổng công ty Truyền tải, các Tổng công ty Điện lực tham gia lĩnh vực kinh doanh viễn thông và đã gây thiệt hại lớn cho các đơn vị này.

tổng số: 2 | đang hiển thị: 1 - 2
Gửi bình luận của bạn
  • In đậm
  • In nghiêng
  • Gạch chân
  • Trích dẫn
Xin hãy nhập các ký tự bạn nhìn thấy ở ảnh sau:
Captcha