Quantcast

Doanh nghiệp

Vốn cho doanh nghiệp: Ngành nào cũng “khát”
10/10/2011 15:57 , 1 Phản hồi

(e-info) - Thiếu vốn, song không dễ tiếp cận vốn vay từ ngân hàng khiến nhiều doanh nghiệp buộc phải thu hẹp sản xuất, cắt giảm lao động, hoạt động cầm chừng.

Theo thống kê của Hiệp hội Doanh nghiệp vừa và nhỏ, hiện có 20% doanh nghiệp bị phá sản, 60% giảm doanh số và phải cắt giảm lao động, số còn lại hoạt động khó khăn. Khó khăn lớn nhất của các doanh nghiệp hiện nay theo cơ quan này là vốn cho sản xuất, kinh doanh khi lãi suất cao, mức cho vay hạn chế, đặc biệt với cho vay trung và dài hạn.

Tổng hợp báo cáo của Hiệp hội Doanh nghiệp vừa và nhỏ về thực hiện nghị quyết 11 cũng cho thấy, rất ít doanh nghiệp có thể vay vốn từ ngân hàng. Như, tại Quảng Bình, chỉ có khoảng 30% các doanh nghiệp vừa và nhỏ vay được vốn từ ngân hàng thương mại. Lãi suất thỏa thuận lên đến 20% là phổ biến. Lãi suất vay dài hạn lên đến 25%.

Khảo sát nhanh đánh giá tác động của các biến động lớn đối với doanh nghiệp và người lao động do Trung tâm Phân tích và Dự báo, Viện Khoa học xã hội Việt Nam vừa hoàn thành trong tháng 9/2011, cũng đã chỉ ra những dấu hiệu bất ổn về tín dụng.

Cụ thể, các chính sách vốn vay hỗ trợ xuất khẩu, bảo lãnh tín dụng tại các chi nhánh Ngân hàng Phát triển chưa tạo được sức bật cho doanh nghiệp. Đa số doanh nghiệp khó tiếp cận chính sách này. Ngoài ra, lãi suất cao, thời hạn cho vay ngắn, càng tạo sức ép khó khăn cho các cơ sở sản xuất.

Trong khi thực trạng thiếu  vốn chưa giải quyết được, cộng thêm chi phí đầu vào như điện, xăng dầu, vật liệu… tăng cao khiến tình trạng “khát” vốn càng trở nên nghiêm trọng hơn.

Nhiều doanh nghiệp dệt may cho biết, hàng hóa tiêu thụ chậm do tâm lý thắt chặt chi tiêu trong thời lạm phát, khiến hàng tồn kho tăng cao, thiếu vốn để quay vòng. Song, hầu hết các cơ sở cũng đều cho rằng, đành chấp nhận tăng hàng tồn kho, giảm mức lãi, cắt giảm lao động chứ không thể đi vay ngân hàng với lãi suất “cắt cổ” để trả lương công nhân được. Bởi, riêng chi phí nhân công cũng đã tăng tới 20%.

Chịu tác động lớn nhất trong việc thiếu vốn là ngành xây dựng. Mới đây, công đoàn ngành xây dựng đã có kiến nghị gửi lên Tổng liên đoàn lao động Việt Nam về những khó khăn của ngành. Dẫn chứng đưa ra là chỉ tính trong 6 tháng đầu năm, ngành xây dựng đã có 25 công trình phải tạm giãn tiến độ do không thu xếp được vốn để tiếp tục thi công; 1.118 lao động mất việc làm; 4.549 lao động không đủ việc làm.

Đáng chú ý là có 66 doanh nghiệp nợ lương người lao động với tổng số tiền 134 tỷ đồng; 79 đơn vị nợ tiền bảo hiểm xã hội với tổng số tiền 85 tỷ đồng.

Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp ngành này cho biết, đầu tháng 9, mặc dù đã có tín hiệu giảm lãi suất ngân hàng nhưng thực tế doanh nghiệp vẫn phải vay vốn với mức lãi suất lên đến 21 - 27%, trong khi hoạt động sản xuất không mang lại lợi nhuận. Vì thế, nhiều doanh nghiệp đã rơi vào tình cảnh duy trì công trình để công nhân không thất nghiệp. Thậm chí, nhiều doanh nghiệp còn gặp khó khăn về trả lương công nhân nên phải vay nóng và lãi suất tăng thêm 6-9% tháng.

Tình trạng thiếu vốn cũng len lỏi vào các doanh nghiệp nông nghiệp, các hộ kinh doanh nhỏ lẻ… Nhiều doanh nghiệp trong lĩnh vực này  cho biết, họ không thể lo đủ vốn để sản xuất kinh doanh, trong khi vay vốn ngân hàng trong thời buổi này là vô cùng khó khăn.

Đại diện một doanh nghiệp phân bón dẫn chứng rằng, mặc dù Nghị định 41 về tạo điều kiện vay vốn cho phát triển nông nghiệp, nông thôn quy định, đối tượng được vay không phải thế chấp tài sản, nếu phương án sản xuất khả thi và được phê duyệt. Tuy nhiên, sau hơn một năm triển khai, ngân hàng vẫn yêu cầu thế chấp đối với các đối tượng, hợp tác xã.

Ngoài ra, số lượng vốn cho vay rất hạn chế, khối ngân hàng nông nghiệp tỉnh chỉ đáp ứng được 20% nhu cầu vốn vay, khối Ngân hàng Chính sách xã hội thì chỉ đáp ứng được 1,13% hộ kinh tế, và chỉ được phép vay vốn ngắn hạn với quy mô nhỏ.

VnEconomy

Đánh giá bài viết này
0
Bình luận (1 đã gửi)
avatar
Đào Diệu Hà 11/10/2011 09:10

Doanh thu dịch vụ CDMA của EVNTelecom năm 2008 là 280 tỷ/tháng, năm 2009 là 260 tỷ/tháng, năm 2010 là 110 tỷ/tháng, năm 2011 là 50 tỷ/tháng và doanh thu dịch vụ CDMA đang trên đà giảm sút. Điện thoại cố định bắt đầu suy thoái, VNPT mỗi năm có hơn 1 triệu thuê bao điện thoại cố định rời mạng, mỗi tỉnh có hơn 20 000 thuê bao điện thoại cố định rời mạng mỗi năm. EVNTelecom có khả năng dịch vụ CDMA chỉ còn người trong ngành sử dụng. Phục vụ cho việc cung cấp dịch vụ CDMA, EVNTelecom đã đầu tư 5 500 tỷ gồm tổng đài, BTS, thiết bị truyền dẫn metro và 4 500 tỷ tiền thiết bị đầu cuối, đó là chưa tính thiết bị truyền dẫn đường trục, hạ tầng cáp quang, cột anten, nhà trạm. Ngoài ra phục vụ cho kinh doanh dịch vụ CDMA, Điện lực cũng đã đầu tư khoảng 2 000 tỷ tiền thiết bị đầu cuối và Tổng Công ty Truyền tải, Tổng Công ty Điện lực, Công ty Điện lực đã đầu tư khoảng 4 500 tỷ tiền hạ tầng cáp quang, nhà trạm, cột anten. Riêng tại EVNTelecom tài sản CDMA chưa được khấu hao còn khoảng 6 500 tỷ, trong đó khoảng 4 500 tỷ là tổng đài CDMA, BTS, thiết bị truyền dẫn metro 1000 và khoảng 2 000 tỷ tiền thiết bị đầu cuối sau khi đã chuyển 45% tiền thiết bị đầu cuối cho Điện lực. Với doanh thu dịch vụ CDMA như hiện nay sau khi đã trừ chi phí kết nối, tiền điện, tiền bảo vệ nhà trạm, tiền thuê mặt bằng đặt trạm, chi phí thu cước thì doanh thu còn lại chưa đủ trả tiền thuê hạ tầng của TCT Truyền tải, TCT Điện lực, Công ty Điện lực. Bên cạnh đó TCT Truyền tải, TCT Điện lực, Công ty Điện lực cũng không muốn làm viễn thông và EVNTelecom cũng đang bị trói chân trói tay với mô hình hiện nay nên không thể trực tiếp tham gia công tác kinh doanh cũng như vận hành trực tiếp hệ thống viễn thông. Do vậy Tập đoàn EVN mới đưa ra phương án chuyển tài sản CDMA cho Điện lực phục vụ công việc đọc chỉ số công tơ điện và tài sản này được đưa vào chi phí sản xuất kinh doanh điện. Đối với EVNTelecom chỉ giữ lại tài sản mạng 3G, thiết bị truyền dẫn đường trục, tuyến cáp quang dự án ODA ( JBIC, OREC..) mà TCT Truyền tải và TCT Điện lực đã bàn giao cho EVNTelecom, hạ tầng viễn thông do EVNTelecom đầu tư, các đường trục nối Quốc tế. Với phương án này EVNTelecom được minh bạch tài chính để cổ phần hoá và Tập đoàn EVN thoả thuận bán 60% vốn điều lệ EVNTelecom cho Tập đoàn FPT. Tuy nhiên thương vụ M&A bất thành và số tiền đặt cọc 700 tỷ của FPT đã được EVNTelecom trả tiền cho nhà thầu để mua 5 000 nodeB 3G dự án 3G giai đoạn 2.

Nguyên nhân thất bại dịch vụ CDMA là do phân cấp của Tập đoàn EVN, vậy nên EVNTelecom không được tham gia trực tiếp công tác viễn thông mà tất cả mọi công tác kinh doanh, thiết kế quy hoạch BTS, vận hành BTS, vận hành các tuyến cáp quang nội hạt đều do Điện lực đảm nhận. EVNTelecom không được tham gia trực tiếp công tác kinh doanh nên không tiếp nhận được ý kiến phản hồi từ phía khách hàng và chiến lược do Tập đoàn EVN vạch ra còn Điện lực thực hiện, EVNTelecom đã đưa ra nhiều chiến lược hay nhưng Tập đoàn EVN không duyệt.

Tập đoàn EVN đã phân bổ cho EVNTelecom 4 500 tỷ tiền mua thiết bị đầu cuối. Nhà mạng VNPT, Viettel đặt mua máy điện thoại không dây có giá từ 600 000 đồng đến 700 000 đồng, trong khi đó EVNTelecom đặt máy có giá từ 1 400 000 đồng đến 3 200 000 đồng. Máy điện thoại tặng không cho khách hàng nhưng EVNTelecom đặt máy quá cao dẫn đến rủi ro lớn trong kinh doanh khi phải chi phí khấu hao thiết bị đầu cuối quá lớn. Trong thời gian đầu ARPU cao và Điện lực cũng tranh giành đầu tư thiết bị đầu cuối với EVNTelecom. EVNTelecom mua hết 4 500 tỷ tiền thiết bị đầu cuối thì trách nhiệm đầu tư thiết bị đầu cuối được giao cho Điện lực và Điện lực cũng đầu tư hết khoảng 2 000 tỷ. Máy điện thoại chủ yếu tặng không cho khách hàng nhưng Điện lực nào cũng muốn nhận máy có giá cao để dễ cho.

EVNTelecom với đội ngũ cán bộ có trình độ nhưng không được tham gia kinh doanh nên không thể nghiên cứu thị trường, tìm hiếu đối thủ để đưa ra quyết sách đúng đắn như đặt máy không dây chỉ có chức năng nghe gọi giá rẻ tặng cho khách hàng tạo rào cản VNPT, Viettel tham gia thị trường điện thoại không dây. Phát triển khách hàng, chăm sóc khách hàng chủ yếu dựa vào đội ngũ công nhân điện tại các Điện lực và đây chỉ là công việc ép buộc đối với công nhân Điện lực dẫn đến EVNTelecom mang tiếng là nhà mạng chăm sóc khách hàng kém nhất.

EVNTelecom có ý định đầu tư máy phát điện thuê các hộ gia đình gần trạm BTS bảo vệ trạm và chạy máy phát điện khi mất điện lưới. Tuy nhiên Tập đoàn EVN yêu cầu EVNTelecom thuê Điện lực đảm nhiệm công việc này và Điện lực lại giao cho công nhân điện dẫn đến nhiều trạm BTS đã gián đoạn hoạt động khi mất điện lưới.

Nhà mạng khác khi đặt trạm BTS thì chọn vị trí cao điểm trong khu vực đảm bảo vùng phủ sóng tối ưu, còn đối với Điện lực thì đầu cơ đất cho thuê đặt trạm. Do vậy đất muốn mua rẻ thì nằm ở vị trí trũng hoặc ở chân núi dẫn đến sóng bị núi che khuất và vùng phủ sóng bị bó hẹp.

Thất bại dịch vụ CDMA phần lớn trách nhiệm là của Điện lực và Tập đoàn EVN chuyển tài sản CDMA cho Điện lực là chính đáng. Tuy nhiên Điện lực có thể chuyển tài sản CDMA thành tài sản phục vụ sản xuất kinh doanh điện bằng dự án đọc chỉ số công tơ điện qua mạng CDMA.

Dự án đọc công tơ điện qua đường ADSL, thuê kênh riêng, modem diup, modem GPRS, USB 3G đã được thử nghiệm và sử dụng ở nhiều nước trên thế giới. Công tơ điện tử được kết nối với bộ lưu dữ liệu và dữ liệu trong bộ lưu dữ liệu công tơ điện được truyền về máy tính trung tâm hoặc máy tính hộ gia đình qua đường internet hoặc thuê kênh riêng. Các nước tiên tiến đa số hộ gia đình đều có internet băng thông rộng nên Công ty Điện lực kết hợp đường internet của hộ gia đình để giảm đầu tư đồng thời hộ gia đình có thể theo dõi được chỉ số công tơ điện của hộ gia đình mình. Hệ thống đọc chỉ số công tơ điện tương tự hệ thống mini SCADA dùng để giám sát và đóng cắt hệ thống điện.

Đọc chỉ số công tơ điện qua mạng CDMA 450 MHz thì bộ lưu dữ liệu công tơ điện sẽ được kết nối với modem CDMA 450 MHz, mỗi modem được cấp một số điện thoại và có thể số điện thoại cố định 053 được sử dụng cho việc cấp số modem còn số 096 để kinh doanh 3G. Thực tế công nghệ 450 MHz rất ít nhà mạng sử dụng, thiết bị đầu cuối CDMA 450 MHz có giá đắt gấp nhiều lần thiết bị đầu cuối của các công nghệ khác, nhà sản xuất thiết đầu cuối CDMA 450 MHz ít tên tuổi nên chất lượng kém hay bị hỏng hóc. Do vậy giá công tơ điện đọc chỉ số bằng công nghệ CDMA 450 MHz sẽ đội lên gấp nhiều lần và chỉ có khách hàng sử dụng điện gánh chịu.

Mạng CDMA 450 MHz có các trạm BTS chỉ mới được lắp card carrier thứ 1 và Điện lực muốn sử dụng carrier thứ 2 và 3 phải lắp thêm card. Phục vụ cho việc nâng cấp carrier thứ 2 và 3 thì Điện lực phải tiêu tốn hàng ngàn tỷ, trong khi Điện lực chưa giảm tổn thất được điện năng do chưa có nguồn vốn để thay lưới điện cũ nát ở thị trấn cũng như nông thôn, chính ngay Tập đoàn EVN cũng còn nợ PVN, TKV lên đến con số chục ngàn tỷ đồng.

Dự án 3G giai đoạn 1, EVNTelecom đã đầu tư 3 000 tỷ cho việc lắp đặt 2 500 trạm 3G. Về phía Điện lực cũng đã đầu tư khoảng 500 tỷ cho việc cải tạo và xây dựng mới hạ tầng viễn thông cho dự án 3G giai đoạn 1. Tuy nhiên trạm 3G bố trí không hợp lý, vùng khách hàng tiềm năng cần phủ sóng trước thì không được phủ sóng, thiết bị truyền dẫn lạc hậu và dung lượng truyền dẫn hạn chế nên một số trạm trung tâm mới được hỗ trợ 3G. Do vậy EVNTelecom cứ loay hoay không biết kinh doanh như thế nào? Nếu chỉ nghe và gọi thì khách hàng sử dụng 2G chứ sử dụng 3G làm gì.

Năm 2010 thiếu điện và Tập đoàn EVN không có tiền đổ dầu chạy điện nhưng vẫn nhắm mắt làm liều tiếp tục đầu tư thêm 5 000 nodeB 3G. Các Tổng Công ty Điện lực, Công ty Điện lực được giao nhiệm vụ đầu tư hạ tầng dự án 3G giai đoạn 2 và hoàn thành trước 30/9/2010. EVNTelecom được giao nhiệm vụ đầu tư phần thiết bị và hoàn thành lắp đặt đưa vào sử dụng trước quý IV/2010. Các Công ty Điện lực cũng đã hoàn thành đầu tư hạ tầng 3G đúng theo kế hoạch với số tiền 2 100 tỷ và nhà thầu cũng đã bàn giao 90% thiết bị cho EVNTelecom vào quý IV/2010. Đột nhiên tháng 10/2010 Tập đoàn EVN thoả thuận bán 60% cổ phần EVNTelecom cho Tập đoàn FPT, với số tiền đặt cọc của FPT là 700 tỷ và số tiền này đã trả tiền thiết bị cho nhà thầu. Quy định của Chính phủ các Công ty viễn thông nhà nước nắm cổ phần chi phối trong đó có EVNTelecom và điều này ai cũng biết chỉ có Tập đoàn EVN, Tập đoàn FPT là không biết.

Tập đoàn FPT muốn nắm cổ phần chi phối để cải tổ triệt để tổ chức EVNTelecom tránh thất bại như trường hợp kinh doanh CDMA. Tập đoàn FPT đã làm việc với NTT DoCoMo đề nghị tư vấn mạng 3G của EVNTelecom. NTT DoCoMo cũng đã tư vấn giúp VinaPhone xây dựng mạng 3G và theo NTT DoCoMo trước tiên phải thiết kế quy hoạch lại trạm 3G đảm bảo vùng phủ sóng tối ưu giảm đầu tư. Trạm 3G của EVNTelecom phải được bố trí sao cho vùng phủ sóng 7 500 trạm 3G của EVNTelecom phải bằng vùng phủ sóng 7 500 trạm 3G hiện có của VinaPhone. Muốn vậy trạm 3G của EVNTelecom phải được bố trí hợp lý, chiều cao lắp đặt sector phải đạt độ cao chuẩn. Tại khu vực FPT đã xây dựng mạng metro để cung cấp dịch vụ internet thì truyền dẫn FE trạm 3G sẽ sử dụng mạng core và metro của FPT, tại khu vực FPT không có mạng metro thì tận dụng các tuyến cáp quang sẵn có lắp đặt thiết bị nâng cấp mạng core và xây dựng mạng metro vừa để cung cấp truyền dẫn FE cho trạm 3G, đồng thời vừa là các node lưu lượng cung cấp dịch vụ internet cáp quang FTTH.

Thuê bao 3G bắt đầu tăng trưởng mạnh, đang có sự dịch chuyển thuê bao 2G sang 3G, doanh thu ARPU trên mỗi thuê bao 3G gấp đôi doanh thu trên mỗi thuê bao 2G. Nhà mạng Mobifone mới chỉ có 5 400 trạm 3G nhưng vùng phủ sóng 3G đã rộng khắp, sóng 3G đã được phủ tất cả các thành phố, thị xã, trị trấn, trung tâm các xã vùng đồng bằng, trung tâm các xã vùng trung du, một phần các xã vùng miền núi và nhà mạng Mobifone đã có 6 triệu thuê bao 3G, doanh thu 3G chiếm 25% tổng doanh thu của Mobifone. Nhà mạng Vinaphone lắp đặt 7 500 trạm 3G, sóng 3G đã được phủ tất cả các thành phố, thị xã, thị trấn, trung tâm các xã vùng đồng bằng, trung tâm các xã vùng trung du, trung tâm các xã vùng miền núi và nhà mạng Vinaphone đã có 4 triệu thuê bao 3G, doanh thu 3G chiếm 20% tổng doanh thu của nhà mạng Vinaphone.

Nhà mạng EVNTelecom với dịch vụ 3G sẽ là cơ hội để EVNTelecom đứng đầu các tiểu gia di động và dần dần vươn lên đứng vào hàng ngũ đại gia di động. Tuy nhiên EVNTelecom phải tham gia trực tiếp tất cả các công tác viễn thông từ công tác quy hoạch thiết kế trạm 3G, công tác kinh doanh, vận hành hệ thống cáp quang…đến cả việc vận hành các trạm 3G.

Dự án 3G giai đoạn 2 chậm tiến độ so với dự kiến đã hơn một năm và riêng chỉ tính lãi suất ngân hàng EVNTelecom đã thiệt hại mất 1 000 tỷ. Ngoài ra EVNTelecom chưa lắp đặt thiết bị 3G nhưng phải trả tiền thuê mặt bằng lắp đặt trạm 3G hơn 200 tỷ/năm, bên cạnh đó dự án 3G giai đoạn 2 chưa hoàn thành nên hơn 3 000 tỷ đầu tư dự án 3G giai đoạn 1 vẫn không phát huy được và doanh thu 3G chỉ đạt 2,2 tỷ/tháng. Tuy nhiên các cột anten do Điện lực xây dựng chỉ cao 18m so với mặt đất và đặt dày đặc ở thành phố và thị xã, đôi khi rãi rác ở nông thôn cũng có vài cột anten nhưng cũng chỉ cao 18m. Với cách thiết kế quy hoạch các trạm 3G của Điện lực nếu có hoàn thành lắp đặt thiết bị đưa vào hoạt động thì vùng phủ sóng 3G bị hạn hẹp nên cũng chưa chắc là kinh doanh được.

Tập đoàn EVN cũng muốn để EVNTelecom tách ra khỏi Tập đoàn và về phía Điện lực cũng không muốn kinh doanh viễn thông công cộng. Phương án bán lại mạng CDMA cho Điện lực thì nhân viên làm công tác viễn thông tại Điện lực vẫn tiếp tục vận hành các BTS CDMA, sửa chữa thiết bị đầu cuối CDMA phục vụ đọc công tơ điện.

Thủ thuật EVNTelecom bán lại mạng CDMA 450 MHz cho Điện lực và Điện lực sử dụng mạng này để đọc chỉ số công tơ điện vừa là lối thoát cho EVNTelecom, đồng thời cũng là lối thoát cho Điện lực. Với thủ thuật này thì EVNTelecom vứt được gánh nợ quá lớn, còn đối với Điện lực món nợ mới và nợ cũ có thể chuyển thành tài sản phục vụ kinh doanh điện sau đó chuyển nợ cho khách hàng sử dụng điện.

tổng số: 1 | đang hiển thị: 1 - 1
Gửi bình luận của bạn
  • In đậm
  • In nghiêng
  • Gạch chân
  • Trích dẫn
Xin hãy nhập các ký tự bạn nhìn thấy ở ảnh sau:
Captcha