Bộ Công thương, Tập đoàn EVN, Tập đoàn Viettel bàn bạc ở đây không phải là Tập đoàn EVN bán EVNTelecom cho Viettel mà đề nghị Viettel tiếp nhận mạng EVNTelecom và làm trả nợ cho nhà mạng này. Tập đoàn EVN mỗi năm thua lỗ viễn thông vài nghìn tỷ. Tuy nhiên thua lỗ hàng năm của Tập đoàn EVN thì viễn thông chỉ chiếm một phần và cũng do viễn thông mà Tập đoàn EVN không được đồng thuận tăng giá điện bù lỗ cho phần thua lỗ do mua điện giá cao.
EVNTelecom đang gánh trên mình khoản nợ quá lớn 7 600 tỷ, đó là chưa tính các khoản vay thực hiện dự án 3G, nợ cước kết nối, nợ phí kết nối, nợ tiền thuê đặt trạm 3G, nợ Tổng công ty NPT, nợ mua thiết bị CDMA…
Hiện nay chỉ riêng tính tài sản Tổng đài CDMA, BTS CDMA, thiết bị truyền dẫn metro 1000 thì EVNTelecom còn hơn 4 000 tỷ chưa được khấu hao. Tập đoàn EVN thực hiện phương án giảm lỗ cho EVNTelecom dưới hình thức mua lại hơn 3 000 tỷ tài sản mạng CDMA để đọc chỉ số công tơ điện. Thực tế dự án đọc chỉ số công tơ điện qua mạng CDMA là không khả thi và đây chỉ là phương án giảm lỗ cho EVNTelecom.
Phục vụ cho kinh doanh dịch vụ CDMA, EVNTelecom đã đầu tư hết 4 500 tỷ tiền thiết bị đầu cuối và Điện lực cũng đã đầu tư hết khoảng 2 000 tỷ. Tập đoàn EVN cũng đã giảm lỗ cho EVNTelecom theo phương án Điện lực chịu 45% chi phí thiết bị đầu cuối do EVNTelecom mua, đồng thời Điện lực cũng mua khống hơn 1 000 tỷ tiền thiết bị đầu cuối từ EVNTelecom dưới hình thức Điện lực xuất hoá đơn nhưng EVNTelecom không bàn giao thiết bị. Tuy nhiên riêng tài sản CDMA tại EVNTelecom vẫn còn khoảng 2 500 tỷ, trong đó 1 500 tỷ là tài mạng CDMA và 1 000 tỷ tiền thiết bị đầu cuối.
Doanh thu dịch vụ CDMA năm 2011 chỉ đạt khoảng 700 tỷ, trong đó 50% doanh thu có được từ các đơn vị trong ngành điện, nhân viên trong ngành điện sử dụng. Nếu các Điện lực không ép nhân viên phải sử dụng mạng Viễn thông Điện lực hoặc nhân viên điện lực chuyển qua sử dụng 3G thì doanh thu dịch vụ CDMA chỉ còn khoảng 500 tỷ/năm. Bên cạnh đó VNPT mỗi năm có hơn 1 triệu thuê bao điện thoại cố định rời mạng và EVNTelecom cũng không tránh khỏi trường hợp này. Kịch bản năm 2012 doanh thu dịch vụ CDMA chỉ còn lại 500 tỷ/năm từ 1 triệu thuê bao cố định CDMA. Phục vụ cho kinh doanh dịch vụ CDMA phải chi phí tiền thu cước 50 tỷ/năm, tiền điện 50 tỷ/năm, tiền bảo vệ trạm 40ỷ/năm, chi phí xăng và xe phục vụ chạy máy phát điện khi mất điện lưới 30 tỷ/năm, chi phí bảo hành thiết bị đầu cuối 30 tỷ/năm, chi phí lương cán bộ vận hành 30 tỷ/năm, chi phí bảo dưỡng 50 tỷ/năm, chi phí khác 30 tỷ/năm. Như vậy thu từ dịch vụ CDMA sau khi trừ chi phí chỉ còn lại 200 tỷ/năm và khấu hao 2 500 tỷ tài sản CDMA còn lại là một vấn đề.
Điện lực ngoài việc đầu tư thiết bị đầu cuối, showroom, dụng cụ…phục vụ kinh doanh viễn thông điện lực thì Điện lực cũng phải đầu tư một số vốn lớn cho hạ tầng viễn thông. Điện lực đã bàn giao tuyến cáp quang dự án viễn thông nội hạt, dự án viễn thông nông thôn (JBIC) cho EVNTelecom nhưng tài sản hạ tầng viễn thông còn lại mỗi Công ty Điện lực cũng ngót nghét cả trăm tỷ. Năm 2010 để bù lỗ cho EVNTelecom, Điện lực phải cộng doanh thu cho thuê cột điện treo cáp viễn thông vào doanh thu viễn thông nhưng chỉ được hưởng khoảng 30% doanh thu. Điện lực không muốn làm viễn thông nữa và chỉ mong cho không EVNTelecom tài sản hạ tầng viễn thông nhưng phải được giữ lại doanh thu cho thuê cột điện treo cáp viễn thông.
Dự án 3G giai đoạn 1, EVNTelecom đã đầu tư 3 000 tỷ lắp đặt 2 500 nodeB 3G, trong đó 80% là đi vay. Tuy nhiên doanh thu dịch vụ 3G chỉ đạt 25 tỷ/năm, bên cạnh đó ngân hàng cũng không giải ngân vốn vay cho EVNTelecom nên EVNTelecom đành lấy tiền đặt cọc của FPT trả tiền thiết bị cho nhà thầu.
Dự án 3G giai đoạn 2, EVNTelecom triển khai lắp đặt thêm 5 000 nodeB 3G. Tập đoàn EVN giao nhiệm vụ cho Điện lực xây mới hạ tầng viễn thông hơn 4 000 trạm 3G và hoàn thành trước 30/9/2010. Nhà thầu cũng đã bàn giao 90% thiết bị dự án 3G giai đoạn 2 cho EVNTelecom vào đầu năm 2011 và Tập đoàn EVN cũng cho EVNTelecom ứng hơn 2 000 tỷ để trả tiền thiết bị cho nhà thầu. Tuy nhiên Trung tâm TVTK EVNTelecom và nhân viên viễn thông tại Điện lực đã quy hoạch thiết kế vị trí đặt trạm 3G một cách tuỳ tiện dẫn đến không đảm bảo tối ưu vùng phủ sóng lãng phí đầu tư. Nhân viên Điện lực đã đầu cơ đất cho thuê lắp đặt trạm 3G, diện tích đất nhỏ nên cột anten lắp đặt quá thấp, bên cạnh đó trạm 3G đặt tai vùng có địa hình thấp hoặc vùng trống. EVNTelecom và nhà thầu đã lắp đặt thử nghiệm trạm 3G giai đoạn 2 tại nhiều tỉnh nhưng không đảm bảo độ rộng vùng phủ sóng như yêu cầu đề ra.
EVNTelecom đã đầu tư hơn 1 000 tỷ cho tuyến cáp quang lên Á nhưng doanh thu cho thuê luồng internet Quốc tế chỉ đạt doanh thu 30 tỷ/năm. Với khoản đầu tư lớn nhưng doanh thu không đáng kể và để bù lỗ cho EVNTelecom, Tập đoàn EVN yêu cầu Điện lực đẩy mạnh cung cấp dịch vụ internet cáp quang FTTH. EVNTelecom cấp cho Điện lực 1 luồng FE có tốc độ 80 Mbps và yêu cầu Điện lực đầu tư switch, converter, modem, cáp quang FTTH cung cấp dịch vụ internet cáp quang FTTH cho khách hàng. Tất cả các thuê bao đều chạy qua BRAS do EVNTelecom đầu tư. Tuy nhiên BRAS không phân biệt được gói cước dẫn đến một username thuê bao nào cũng sử dụng cũng được, bên cạnh đó game hay bị treo dẫn đến khách hàng chỉ sử dụng dịch vụ trong một thời gian ngắn. Rút kinh nghiệm nhiều Công ty Điện lực bỏ thương hiệu EVNTelecom chuyển sang sử dụng thương hiệu cáp quang internet Điện lực PC, hoặc như Tổng công ty NPC tự đầu tư Router lõi, BRAS, switch quang… của hãng Cisco Hoa Kỳ và chỉ thuê luồng Quốc tế của EVNTelecom có tốc độ 150 Mbps.
Lãnh đạo Tập đoàn EVN đề nghị Tập đoàn Viettel tiếp nhận tài sản còn lại của EVNTelecom và làm trả nợ cho EVNTelecom, bên cạnh đó các Tổng công ty Truyền tải, Tổng công ty Điện lực, Công ty Điện lực không muốn làm viễn thông nữa và Tập đoàn EVN đề nghị Viettel có thể tiếp nhận miễn phí hạ tầng viễn thông do các đơn vị này đầu tư. Tuy nhiên hạ tầng viễn thông của EVN đối với Viettel không có ý nghĩa.
Tập đoàn Viettel đã xây dựng được 3 trục cáp quang Bắc-Nam, một trục cáp quang chôn ngầm dọc theo hành lang đường tàu, trục thứ hai treo trên đường dây thông tin tín hiệu đường sắt, trục thứ 3 treo trên các tuyến 22KV và 35KV của Điện lực. Tập đoàn EVN cũng có giao cho Bộ thông tin liên lạc 2 sợi quang trên tuyến 500 KV Bắc-Nam nhưng Viettel vẫn không sử dụng hai sợi này vì rất khó vận hành và hiện nay chỉ sử dụng cho thông tin liên lạc quân sự. Do vậy trục cáp quang Bắc-Nam của EVN không có ý nghĩa đối với Viettel, bên cạnh đó thiết bị truyền dẫn của EVNTelecom trên tuyến này cũng lạc hậu cần được nâng cấp.
Tập đoàn Viettel cũng đã xây dựng các tuyến cáp quang nội tỉnh rộng khắp, tất cả các trạm thu phát sóng đã được kết nối mạch vòng, thiết bị truyền dẫn tại các node nội tỉnh là thiết bị SDA và đang được thay thế bằng thiết bị truyền Man-E. Do vậy các tuyến cáp quang nội tỉnh và thiết bị truyền dẫn Metro 1000 của EVN thì Viettel cũng không sử dụng được.
Hiện nay dịch vụ điện thoại cố định không dây chỉ thích hợp với vùng sâu, vùng xa. Tuy nhiên các vùng này chất lượng sóng của EVNTelecom không được tốt. Do vậy Viettel tiếp nhận EVNTelecom thì Viettel vẫn giữ nguyên số cho khách hàng nhưng sẽ chuyển sang sử dụng máy Viettel để sử dụng công nghệ không dây GSM.
Hiện nay mạng 3G Viettel có 3 băng thông 5 MHz, những vị trí có lưu lượng lớn Viettel lắp đặt nodeB loại 4 cell hoặc 6 cell, bên cạnh đó các thành phố lớn Viettel đã nâng cấp lên tiền 4G HSPA (cộng) bằng cách sử dụng trực giao 2 sóng mang có băng thông 5 MHz. Thế nhưng EVNTelecom chỉ có băng thông 5 MHz của băng tần 3G nên muốn nâng cấp lên 4G vẫn không thể làm được. Bên cạnh đó EVNTelecom phản ánh các nhân viên Điện lực đầu cơ đất cho thuê lắp đặt trạm 3G, muốn mua đất rẻ thì diện tích đất nhỏ và nằm vùng trũng nên chỉ lắp được cột anten 18m. Do vậy lắp đặt thiết bị 3G tại các vị trí này vùng phủ sóng bị bó hẹp.
Như vậy Viettel tiếp nhận EVNTelecom đầu tiên phải tiến hành cải tổ tổ chức này bắt đầu từ đào tạo, đào thải theo phương châm “nước muốn trong phải chảy” và phương châm “hạ tầng tập trung, kinh doanh phân tán”.















Bình luận (1 đã gửi)