Tập đoàn Viettel có buổi làm việc với Tập đoàn Điện lực Việt Nam, mục đích nắm bắt sơ bộ mô hình đang hoạt động của viễn thông EVN, tài sản viễn thông của EVN và các khoản nợ của EVNTelecom. Buổi họp này là bước chuẩn bị của Tập đoàn Viettel cho việc tiếp nhận Công ty EVNTelecom khi có sự chỉ đạo chính thức của Chính phủ.
Công ty EVNTelecom riêng tài sản phục vụ cho kinh doanh dịch vụ CDMA là 7.600 tỷ gồm tổng đài CDMA, BTS, thiết bị truyền dẫn SKA-64, SKA-16, metro 1000, thiết bị đầu cuối CDMA. Tuy nhiên doanh thu dịch vụ CDMA tháng 11/2011 chỉ còn 62 tỷ/tháng.
Tổng công ty Điện lực, Công ty Điện lực riêng phần thiết bị đầu cuối CDMA tự đầu tư gần 2.000 tỷ và theo quy chế tài chính do EVN ban hành thiết bị đầu cuối Điện lực đầu tư thì Điện lực được hưởng 60% doanh thu. Bên cạnh đó Điện lực phải tiếp nhận 45% của 4.500 tỷ tương đương 2.100 tỷ tiền thiết bị đầu cuối do EVNTelecom chuyển qua và Điện lực được hưởng 45% doanh thu.
Trong 3.000 trạm CDMA thì chỉ có 400 trạm do EVNTelecom đầu tư, còn lại do Điện lực đầu tư và cho EVNTelecom thuê lại. Hiện nay EVNTelecom chỉ mới ký hợp đồng thuê 700 trạm thuộc dự án CDMA giai đoạn 1 và 2 với số tiền thuê mỗi tháng 11 tỷ đồng/tháng. Các Tổng công ty Điện lực đã bàn giao cho EVNTelecom các tuyến cáp quang thuộc dự án CDMA giai đoạn 1 và 2 với số tiền 1.352 tỷ và EVNTelecom vẫn chưa trả số tiền này.
Tập đoàn Viettel có làm việc với các Tổng công ty Điện lực, các Tổng công ty Điện lực kiến nghị bổ sung hợp đồng thuê hạ tầng dự án CDMA giai đoạn 4 và 5, đồng thời tăng giá thuê hạ tầng đảm bảo bên cho thuê phải có lãi. Nếu như vậy mỗi tháng phải trả tiền thuê hạ tầng cho các Tổng công ty Điện lực mất trên 30 tỷ/tháng.
Công ty EVNTelecom mỗi năm phải trả cho Tổng công ty Truyền tải 182 tỷ tiền chi phí vận hành tuyến cáp quang OPGW trên đường dây 500KV, 220KV. Tổng công ty Truyền tải đề nghị bàn giao cho EVNTelecom với số tiền 358 tỷ cáp quang dự án ORET, nhưng EVNTelecom vẫn chưa muốn tiếp nhận. Tập đoàn Viettel đã làm việc với Tổng công ty Truyền tải và Tổng công ty Truyền tải đề nghị EVNTelecom ký hợp đồng thuê tài sản các tuyến cáp quang OPGW trên các tuyến 500KV, 220KV.
Tập đoàn Viettel cũng trao đổi thẳng thắn với Tập đoàn EVN, dịch vụ CDMA sẽ không thể tăng trưởng được mà chỉ có suy thoái. Mạng CDMA chỉ thích hợp cung cấp dịch vụ điện thoại không dây E-COM. Tuy nhiên điện thoại cố định đang suy thoái, Tập đoàn Viettel có 42.000 trạm 2G GSM, máy không dây Viettel tự sản xuất có giá rẻ nhưng mỗi năm vẫn có hơn 1 triệu thuê bao cố định không dây rời mạng.
Hệ thống cáp quang của Viettel đã rộng khắp, các tuyến cáp quang đều đã kết nối mạch vòng. Tập đoàn Viettel có 3 đường trục cáp quang Bắc-Nam, trục 1 theo hành lang đường sắt, trục 2 đi dọc theo tuyến thông tin tín hiệu đường sắt, trục 3 Huế - Hà Nội đi theo cột điện 22KV và 35KV của Điện lực. Tập đoàn Viettel cũng đang có kế hoạch xây dựng một trục cáp quang biển đi dọc theo bờ biển Việt Nam. Bên cạnh đó Viettel cũng đang tiến hành ngầm hoá và trồng trụ để tất cáp quang ra khỏi cột điện của Điện lực. Tập đoàn Viettel cũng có trao đổi một số tuyến cáp với EVN. Tuy nhiên sử dụng cáp quang Điện lực khi sự cố xảy ra thủ tục vào trạm Điện lực quá rườm rà đã kéo dài thời gian xử lý sự cố, nên Viettel đã xây dựng thêm nhiều tuyến dự phòng và chỉ xem tuyến cáp quang trao đổi với EVN là thứ yếu.
Doanh thu dịch vụ CDMA của EVNTelecom chỉ 62 tỷ/tháng và doanh thu này sẽ giảm sút trong những năm tiếp theo. Do vậy kinh doanh dịch vụ CDMA vẫn tiếp tục thuê hạ tầng của Tổng công ty Điện lực, Tổng công ty Truyền tải thì doanh thu này chỉ đủ các chi phí thuê hạ tầng, chi phí tiền điện, tiền thuê mặt bằng… và Tập đoàn Viettel phải bù lỗ để duy trì dịch vụ này. Do vậy Tập đoàn Viettel đang có phương án chuyển khách hàng sử dụng dịch vụ E-COM sang sử dụng dịch vụ Homphone, khách hàng sử dụng di động CDMA sẽ chuyển qua sử dụng mạng GSM hoặc 3G của Viettel và loại bỏ mạng CDMA của EVNTelecom. Với phương án này sau khi trừ chi phí chuyển đổi dịch vụ E-COM sang Homphone mỗi tháng lợi nhuận từ dịch vụ cố định không dây đạt 25 tỷ/tháng hay 300 tỷ/năm.
Tài sản CDMA của EVNTelecom vốn chủ sở hữu chỉ có hơn 1.500 tỷ trên tổng giá trị tài sản 7.600 tỷ. EVNTelecom còn nợ nhà thầu bán thiết bị CDMA là 25 triệu USD tương đương 500 tỷ, số còn lại là vay muợn 5.500 tỷ. Như thế lợi nhuận đem lại từ dịch vụ CDMA là 300 tỷ/năm thì đến khi nào mới trả hết số nợ phải trả. Tập đoàn EVN đề nghị cho Tập đoàn Viettel mượn cột điện trong thời gian 7 năm để kinh doanh cho thuê treo cáp viễn thông và lợi nhuận thu được trả phần kinh doanh dịch vụ CDMA đã thua lỗ.
Tập đoàn EVN đã đầu tư tuyến cáp quang biển liên Á với số tiền đầu tư 1.000 tỷ và sẽ bàn giao tài sản cho EVNTelecom. Hiện nay mỗi năm tuyến cáp quang biển này riêng cho thuê kênh luồng Quốc tế là 60 tỷ/năm gồm 30 tỷ thu từ cho CMC thuê và 30 tỷ cho Tổng công ty NPC thuê.
Công ty EVNTelecom cũng đã kinh doanh dịch vụ Internet cáp quang FTTH với doanh thu 9 tỷ/tháng. Trong các Tổng công ty Điện lực thì Tổng công ty NPC chỉ thuê luồng Quốc tế của EVNTelecom, Tổng công ty NPC tự đầu tư đường trục trong nước, hệ thống quản lý băng thông Bras, hệ thống tính cước… Các Tổng công ty còn lại thì EVNTelecom đầu tư 1 luồng FE tại Công ty Điện lực tỉnh và Tổng công ty Điện lực tự đầu tư switch quang, converter, cáp quang FTTH, modem quang.
Các Chi nhánh Viettel tỉnh đã thử nghiệm chất lượng dịch vụ internet cáp quang của EVNTelecom, chất lượng kém, game hay bị treo, kết cấu mạng hình sao nên sự cố xảy ra thời gian xử lý kéo dài. Tập đoàn Viettel đã xây dựng mạng man-E vừa để cung cấp dịch vụ internet vừa cung cấp truyền dẫn FE cho nodeB 3G. Mạng man-E được kết nối mạch vòng, các node của man-E là các node lưu lượng đảm bảo hiệu quả băng thông. Do vậy Viettel cung cấp dịch vụ internet cho khách hàng đúng tốc độ theo hợp đồng đã ký và rút ngắn thời gian xử lý khi sự cố xảy ra.
Doanh thu internet của EVNTelecom khoảng 110 tỷ/năm, sau khi chiết khấu cho Điện lực 50% thì chỉ còn 55 tỷ/năm, doanh thu này cộng với doanh thu cho thuê kênh luồng Quốc tế chỉ đạt 105 tỷ/năm. Với doanh thu này không đủ trả lãi 1.000 tỷ đầu tư tuyến cáp quang liên Á. Tập đoàn Viettel sau khi tiếp nhận EVNTelecom, khách hàng EVNTelecom sẽ được chuyển qua sử dụng dịch vụ internet của Viettel và khách hàng sẽ biết được đích thực thế nào là dịch vụ internet cáp quang FTTH. Phương án xử lý này của Viettel sẽ giảm được chiết khấu hoa hồng cho Điện lực, tăng doanh thu từ dịch vụ này và chống thuê bao rời mạng.
Mạng 3G, EVNTelecom ký hợp đồng EPC với nhà thầu với số tiền hơn 8.000 tỷ, nhà thầu đã lắp đặt và bàn giao thiết bị 80% giá trị hợp đồng, nhưng EVNTelecom vốn tự có chỉ 800 tỷ. Do ngân hàng ngừng giải ngân số tiền tài trợ gần 2.000 tỷ cho EVNTelecom thực hiện lắp đặt 2.500 nodeB 3G giai đoạn 1. Do vậy EVNTelecom đã lấy 700 tỷ tiền đặt cọc của FPT và 130 tỷ tiền đặt cọc VTC tạm trả cho Nhà thầu.
Tổng công ty Điện lực cũng đã đầu tư mới 4.500 trạm 3G với số tiền 3.500 tỷ để cho EVNTelecom thuê. Tập đoàn Viettel có 42.000 trạm 2G và 17.000 trạm 3G, các trạm 2G và 3G bố trí thích hợp với quy hoạch tổng thể. Tập đoàn Viettel sẽ dừng mua 6.000 nodeB và sẽ sử dụng 6.300 nodeB hiện có của EVNTelecom để lắp đặt tại các trạm 2G của Viettel đúng theo quy hoạch. Bên cạnh đó Viettel cũng sẽ tháo các MSC di chuyển lắp đặt tại vị trí thích hợp.
Doanh thu từ dịch vụ 3G của EVNTelecom quá ít ỏi chỉ là 22 tỷ/năm. Thuê bao 3G của Viettel là 5 triệu thuê bao chỉ đạt 25% dung lượng. Do vậy nếu để nguyên các trạm 3G của EVNTelecom như theo quy hoạch của nhà mạng này thì mỗi năm Viettel phải trả cho Điện lực 700 tỷ/năm tiền thuê hạ tầng, 200 tỷ/năm tiền thuê mặt bằng lắp đặt trạm, bên cạnh đó Viettel phải đầu tư cải tạo hệ thống truyền dẫn để cung cấp truyền dẫn FE cho nodeB 3G. Ngoài ra vị trí thuê trạm 3G của Điện lực cũng không nằm ở vị trí thuận tiện, địa điểm đặt trạm 3G thấp, trạm nằm ở vùng thưa dân, cột anten và hệ thống tiếp đất không đạt tiêu chuẩn, có vị trí thì xây nhà trạm nhưng có vị trí thì chỉ xây hàng rào. Do vậy sẽ không đảm tối ưu vùng phủ sóng như Viettel đã quy hoạch, xảy ra tình trạng chèn sóng giữa các trạm 3G.
Chính phủ chỉ đạo Tập đoàn Viettel tiếp nhận Công ty EVNTelecom, tái cấu trúc phương thức sản xuất tiến tới không lỗ có lãi để trả nợ các khoản nợ của EVNTelecom. Muốn vậy, Tập đoàn Viettel phải tận dụng hạ tầng sẳn có, giảm chi phí. Vì vậy Tập đoàn Viettel không thể tiếp nhận các tài sản từ các Tổng công ty Điện lực, Tổng công ty Truyền tải và cũng không thuê tài sản. Ngoài ra Tập đoàn EVN chỉ đạo các Tổng công ty Điện lực, Tổng công ty Truyền tải cho Viettel sử dụng cột điện trong thời gian 7 năm để kinh doanh cho thuê cột điện treo cáp viễn thông.















Bình luận (3 đã gửi)