This has made my day. I wish all ptoisngs were this good.
(E-info) - Cơn chấn động thị trường tiền tệ lần này gợi nhớ đến cuộc khủng hoảng năm 2008, khi những đồn đoán về một cuộc khủng hoảng hối đoái và ngân hàng sắp xảy ra đã lan tỏa nhanh chóng và sự sụp đổ của ngân hàng Lehman Brothers Holdings, khiến thanh khoản toàn cầu cạn kiệt và các thị trường xuất khẩu sụp đổ.
Khủng hoảng tài chính châu Á là cuộc khủng hoảng tài chính bắt đầu từ tháng 7 năm 1997 ở Thái Lan rồi ảnh hưởng đến các thị trường chứng khoán, trung tâm tiền tệ lớn, và giá cả của những tài sản khác ở vài nước Châu Á, nhiều quốc gia trong đó được coi như là "những con Hổ Đông Á". Cuộc khủng hoảng này còn thường được gọi là Khủng hoảng tiền tệ châu Á.
Indonesia, Hàn Quốc và Thái Lan là những nước bị ảnh hưởng mạnh nhất bởi cuộc khủng hoảng này. Hồng Kông, Malaysia, Lào, Philippines cũng bị ảnh hưởng bởi sự sụt giá bất thình lình. Còn Đại lục Trung Hoa, Đài Loan, Singapore và Việt Nam không bị ảnh hưởng. Nhật Bản cũng không bị ảnh hưởng nhiều bởi sự khủng hoảng, song nền kinh tế Nhật phải kinh qua những khó khăn kinh tế dài hạn của chính bản thân mình.
Mặc dù được gọi là cơn khủng hoảng "Đông Á" bởi vì nó bắt nguồn từ Đông Á, nhưng ảnh hưởng của nó lại lan truyền toàn cầu và gây nên sự khủng hoảng tài chính trên toàn cầu, với những tác động lớn lan rộng đến cả các nước như Nga, Brasil và Hoa Kỳ.
Nguyên nhân trực tiếp của khủng hoảng tài chính Đông Á năm 1997 là những cuộc tấn công đầu cơ và việc rút vốn đồng loạt khỏi các nước châu Á.
Những nguyên nhân sâu xa nói trên rồi cũng bộc lộ. Thị trường bất động sản của Thái Lan đã vỡ. Một số thể chế tài chính bị phá sản. Người ta không còn tin rằng chính phủ đủ khả năng giữ nổi tỷ giá hối đoái cố định. Khi phát hiện thấy những điểm yếu chết người trong nền kinh tế của các nước châu Á, một số thể chế đầu cơ vĩ mô đã tiến hành tấn công tiền tệ châu Á. Các nhà đầu tư nước ngoài đồng loạt rút vốn ra.
Một nguyên nhân trực tiếp nữa của khủng hoảng là năng lục xử lý khủng hoảng yếu kém. Nhiều nhà kinh tế cho rằng khi mới bị tấn công tiền tệ, đáng lẽ các nước châu Á phải lập tức thả nổi đồng tiền của mình chứ không nên cố sức bảo vệ tỷ giá để đến nối cạn kiệt cả dự trữ ngoại hối nhà nước mà lại càng làm cho tấn công đầu cơ thêm kéo dài.
Bong bóng nhà ở vỡ làm nhiều người vay tiền ngân hàng đầu tư nhà không trả được nợ dẫn tới bị tịch biên nhà thế chấp. Nhưng giá nhà xuống khiến cho tài sản tịch biên không bù đắp nổi khoản ngân hàng cho vay, khiến các ngân hàng rơi vào khó khăn.
Ngoại trưởng 10 nước ASEAN lúc đó tin rằng, việc liên kết các hệ thống tiền tệ chặt chẽ là một nỗ lực thận trọng nhằm củng cố vững chắc các nền kinh tế ASEAN. Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN lần thứ 30 diễn ra tại Subang Jaya, Malaysia đã thông quan một Tuyên bố chung vào ngày 25 tháng 7 năm 1997 nêu rõ mối quan ngại sâu sắc và kêu goi các nước ASEAN cần hợp tác chặt chẽ hơn nhằm bảo vệ và tăng cường lợi ích của ASEAN trong giai đoạn này. Ngẫu nhiên là trong cùng ngày này, các Ngân hàng Trung ương của hầu hết các nước chịu tác động của khủng hoảng đã gặp nhau tại Thượng Hải trong Hội nghị cấp cao Đông Á Thái Bình dương EMEAP, và thất bại trong việc đưa ra một biện pháp Dàn xếp cho vay mới. Trước đó một năm, Bộ trưởng Tài chính của các nước này cũng đã tham dự Hội nghị Bộ trưởng Tài chínhAPEC lần thứ 3 tại Kyoto, Nhật Bản vào ngày 17 tháng 3 năm 1996, và theo như Tuyên bố chung, các bên đã không thể nhân đôi được Quỹ tài chính phục vụ cho Hiệp định chung về cho vay và Cơ chế Tài chính trong tình trạng khẩn cấp. Vì vậy, cuộc khủng hoảng có thể xem như một thất bại trong việc xây dựng năng lực phù hợp kịp thời, thất bại trong việc ngăn chặn sự lôi kéo tiền tệ.
Một số nhà kinh tế lại chỉ trích chính sách tài chính thắt chặt của IMF được áp dụng ở các nước xảy ra khủng hoảng càng làm cho khủng hoảng thêm trầm trọng.
Khủng hoảng đã gây ra những ảnh hưởng vĩ mô nghiêm trọng, bao gồm mất giá tiền tệ, sụp đổ thị trường chứng khoán, giảm giá tài sản ở một số nước châu Á. Nhiều doanh nghiệp bị phá sản, dẫn đến hàng triệu người bị đẩy xuống dưới ngưỡng nghèo trong các năm 1997-1998. Những nước bị ảnh hưởng nặng nề nhất là Indonesia, Hàn Quốc và Thái Lan.
Khủng hoảng kinh tế còn dẫn tới mất ổn định chính trị với sự ra đi của Suharto ở Indonesia và Chavalit Yongchaiyudh ở Thái Lan. Tâm lý chống phương Tây gia tăng cùng với sự phê phán gay gắt nhằm vào George Soros và Quỹ Tiền tệ Quốc tế. Các phòng trào Hồi giáo và ly khai phát triển mạnh ở Indonesia khi chính quyền trung ương của nước này suy yếu.
Một ảnh hưởng lâu dài và nghiêm trọng, đó là GDP và GNP bình quân đầu người tính bằng Dollar Mỹ theo sức mua tương đương giảm đi. Nội tệ mất giá là nguyên nhân trực tiếp của hiện tượng này. Cuốn CIA World Fact Book cho biết thu nhập bình quân đầu người của Thái Lan đã giảm từ mức 8.800 USD năm 1997 xuống còn 8.300 USD vào năm 2005, của Indonesia giảm từ 4.600 USD xuống 3.700 USD, của Malaysia giảm từ 11.100 USD xuống 10.400 USD.
Cuộc khủng hoảng không chỉ lây lan ở khu vực Đông Á mà nó góp phần dẫn tới khủng hoảng tài chính Nga và khủng hoảng tài chính Brasil. Một số nước không bị khủng hoảng, nhưng kinh tế cũng chịu ảnh hưởng xấu do xuất khẩu giảm và do FDI vào giảm.
Hàn Quốc có nhiều kinh nghiệm quý báu vượt qua cuộc khủng hoảng tài chính bắt đầu từ năm 2008 và dai dẳng đến hiện nay. Những liều thuốc tăng sức đế kháng cho nền kinh tế Hàn Quốc trước “bão” tài chính:
Kể từ khi cuộc khủng hoảng tiền tệ châu Á lan rộng hồi cuối năm 1997, các quan chức chính phủ, giới truyền thông và cả những người dân thường của Hàn Quốc đã trở nên hết sức cảnh giác trước bất kỳ dấu hiệu bất ổn nào từ bên ngoài, dù là nhỏ nhất. Cuộc khủng hoảng tài chính châu Á - khởi đầu từ Thái Lan, sau đó lan sang Indonesia, trước khi "đổ bộ" vào Hàn Quốc - đã để lại một vết sẹo sâu đậm tại đất nước này. Hàn Quốc khi đó đã phải cầu cứu tới gói cứu trợ quốc tế trị giá gần 60 tỷ USD và tiến hành cải cách mạnh mẽ đối với nền kinh tế và các doanh nghiệp, đang "sống dở chết dở" vì những khoản vay mượn vô tội vạ trước đó.
Vào tuần trước, khi sự hoảng loạn nhấn chìm các thị trường chứng khoán toàn cầu sau khi lần đầu tiên trong lịch sử nước Mỹ bị hạ bậc xếp hạng tín dụng từ AAA xuống AA+, chính phủ Hàn Quốc đã ngay lập tức hành động nhằm trấn an tâm lý các nhà đầu tư. Cơn chấn động lần này gợi nhớ đến cuộc khủng hoảng năm 2008, khi những đồn đoán về một cuộc khủng hoảng hối đoái và ngân hàng sắp xảy ra đã loang rộng khắp Hàn Quốc ngay cả trước khi xảy ra sự sụp đổ của ngân hàng Lehman Brothers Holdings, khiến thanh khoản toàn cầu cạn kiệt và các thị trường xuất khẩu sụp đổ.
Các quan chức kinh tế hàng đầu Hàn Quốc đã khẩn trương tổ chức các cuộc họp khẩn cấp, công bố các thông tin, cố gắng tái khẳng định với các nhà đầu tư và người dân rằng tình hình quốc tế, dù bất ổn, cũng sẽ không ảnh hưởng nhiều đến nền kinh tế lớn thứ tư châu Á này. Tổng thống Hàn Quốc Lee Myung-bak đã ngay lập tức trực tiếp tới Bộ Tài chính và Chiến lược để thảo luận về tình hình bất ổn đang diễn ra.
Nguồn dự trữ ngoại tệ lớn thứ 7 thế giới và thặng dư tài khoản vãng lai cao kỷ lục cũng là những nhân tố giúp Hàn Quốc vượt qua được cơn hỗn loạn hiện nay trên thị trường tài chính toàn cầu. Kinh nghiệm trong những lần chống chọi với các cuộc khủng hoảng trước đây, đặc biệt là cuộc khủng hoảng kinh tế khu vực Châu Á hồi năm 1997-1998, cũng giúp Hàn Quốc thêm tự tin rằng họ sẽ vượt qua được các cơn bão sắp tới.
Khủng hoảng tài chính Đông Á làm người ta nhận thức rõ hơn sự cần thiết phải có một hệ thống tài chính - ngân hàng vững mạnh, minh bạch. Điều này thôi thúc Quỹ Tiền tệ Quốc tế và Ngân hàng Thanh toán Quốc tế đổi mới các quy chế về ngân hàng và các tổ chức tín dụng nói chung.
Chính phủ nhiều nước đang phát triển cho rằng các dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài và vốn vay ngân hàng nước ngoài có thể đem lại những tác động bất lợi với nền kinh tế của họ. Do đó, nhiều chính phủ đã ban hành những quy chế nhằm điều tiết các dòng vốn này.
Bên cạnh đó, những thỏa thuận ở cấp khu vực nhằm phát triển một hệ thống phòng ngừa khủng hoảng tái diễn đã được thúc đẩy ở châu Á, ví dụ như Sáng kiến Chiang Mai, Tiến trình Đánh giá và Đối thoại Kinh tế ASEAN+3, Sáng kiến Thị trường Trái phiếu Châu Á, ...
Về mặt học thuật, các nhà nghiên cứu kinh tế đã nhận thấy sự hạn chế của các mô hình lý luận về khủng hoảng tiền tệ trước đây trong việc giải thích nguồn gốc và sự lây lan của khủng hoảng tài chính Đông Á. Đã có nhiều nỗ lực nhằm đưa ra một mô hình mới về khủng hoảng tiền tệ, chẳng hạn như mô hình phương pháp tiếp cận bảng cân đối tài sản, lý thuyết bong bóng, lý thuyết về nguồn gốc khủng hoảng từ chính sách tài chính và chính sách tiền tệ.
Lưu Hoàng Vân - MBA (E-INFO)
Bình luận (2 đã gửi)