Quantcast

Tiêu điểm

Việt Nam nhìn ra Khủng hoảng nợ công ở châu Âu
14/11/2011 17:20 , 0 Phản hồi

(e-info) - Theo Cục Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại, Bộ Tài chính tính đến 31/12/2009, nợ Chính phủ bằng 42% so với GDP, trong đó: Nợ trong nước của Chính phủ bằng 16,9% so với GDP; nợ nước ngoài của Chính phủ bằng 25,1% so với GDP. Nợ công của Việt Nam vẫn nằm trong giới hạn an toàn cho phép nhưng đã ở mức sát ngưỡng cảnh báo.

Thực tế chính trường tài chánh của EU đã lộ diện nạn “nợ công”  Khi 2 thủ tướng Hy Lạp và ý từ chức. Việc thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng này không phải là điều dễ dàng. Khi nhiều chính sách thắt lưng buộc bụng bị lạm dụng để giảm nợ công, một cuộc suy thoái trầm trọng sẽ xảy ra. Trước đây, các quốc gia áp dụng chính sách thắt chặt tài khóa đi kèm với hạ giá tiền tệ. Tuy nhiên, các thành viên Liên minh châu Âu sử dụng chung một đồng tiền, nên họ không thể làm được điều này. Còn Việt Nam nhìn ra bài học lớn này đế nền kinh tế vĩ mô có những bước đi thích hợp để ngăn chặn tình trạng gia tăng nợ công.


E-info xin giới thiệu một số bài liên quan đến tình hình nợ công tại châu Âu:


>>Quỹ bình ổn tài chính châu Âu bị hạ tín nhiệm

>>S&P hạ bậc tín nhiệm của Pháp và Áo

>>Khủng hoảng kinh tế đẩy Berlusconi từ bỏ quyền

>Châu Âu nỗ lực để kiểm soát nợ công tại Eurozone

>>Khủng hoảng nợ châu Âu có thể còn tồi tệ hơn

>Hậu họa nợ công và bài học từ “lưỡi dao” S&P!

>Vì nợ công của Mỹ và châu Âu - Kinh tế thế giới chao đảo

>>Tại sao châu Âu cần hợp nhất?

>>Đức: biểu tình dữ dội phản đối ngân hàng

 

 

Ngân hàng trung ương châu Âu


Nhìn rộng ra thế giới hiện có 19/75 nền kinh tế lớn nhất thế giới được nghiên cứu có nợ nước ngoài so với GDP dự kiến ở mức trên 100% và có 10 quốc gia đang có tỷ lệ nợ công so với GDP ở mức nguy hiểm. Nguyên nhân khủng hoảng nợ công tại châu Âu là do việc ưa chuộng chính sách tài khóa mở rộng của khối các nước sử dụng chung đồng tiền; gánh nặng thuế khóa và công đoàn; gánh nặng từ chi phí an sinh xã hội và đầu tư của khu vực tư nhân có xu hướng giảm.

Những con số về tình trạng nợ nần ở mức độ nguy hiểm của nhiều nền kinh tế trên thế giới được công bố tại hội thảo “Quản lý và giám sát tài chính công trước những vẫn đề nợ công ở châu Âu và những hàm ý đối với Việt Nam” do Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia phối hợp với Đại sứ quan Ailen và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam tổ chức ngày 2/7/2010 tại Hà Nội như một thông điệp về những tác động khôn lường của việc chi tiêu “quá đà” ở nhiều quốc gia.


Ngân hàng Nhà nước Việt Nam



Theo TS. Lê Xuân Nghĩa, Phó Chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia:  ngay ở nền kinh tế mạnh như Mỹ thì vấn đề nợ công, thâm hụt ngân sách đã trở thành vấn đề an ninh quốc gia khi tổng nợ chiểm 93% GDP.  Cho rằng tác động xấu còn ở phía trước, ông Lê Xuân Nghĩa lưu ý những ảnh hưởng lớn đến Việt Nam trước những vấn đề về nợ công ở châu Âu:

Xuất khẩu giảm


Cuộc khủng hoảng nợ châu Âu kéo theo một loạt hệ quả tất yếu: tốc độ phục hồi kinh tế thế giới chậm lại, có thể theo hình chữ W thay vì chữ V, đặc biệt khu vực châu Âu sẽ phải chứng kiến tình hình thất nghiệp và lạm phát tăng cao, đồng Euro mất giá, tăng trưởng GDP giảm sút, làm cho thu nhập thực tế người dân và cầu tiêu dùng với hàng nhập khẩu giảm mạnh.


Về vấn đề này, một số quan điểm cho rằng hàng hóa giá rẻ là ưu thế của Việt Nam do đó cuộc khủng hoảng nợ công sẽ giúp hướng người dân châu Âu chuyển từ hàng hóa cao và trung cấp sang hàng hóa do Việt Nam sản xuất. Tuy nhiên, những số liệu tính toán từ mô hình ước lượng cho thấy, cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu sẽ có những tác động tiêu cực đến xuất khẩu và tăng trưởng GDP của Việt Nam, với mức suy giảm khoảng 1,7% GDP trong năm 2010, cao thứ ba chỉ sau Trung Quốc (2,8%) và Anh (1,9%).


Vì vậy, nếu không có những chính sách phản ứng kịp thời hỗ trợ xuất khẩu thì triển vọng trung hạn đối với xuất khẩu của Việt Nam sẽ gặp nhiều khó khăn.

Lãi suất thấp ở các nước, trong khi cao ở Việt Nam sẽ bất lợi về chi phí cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam


Do lo ngại tác động tiêu cực từ khủng hoảng nợ công, nhiều ngân hàng trung ước các nước phát triển vẫn huy trì mức lãi suất sàn thấp lịch sử nhằm kích thích sự phục hồi kinh tế và chấp nhận lạm phát trong chừng mực nhất định. Lãi suất cơ bản tiệm cận 0% ở hầu hết các nước: FED (Mỹ): 0,25%; ECB (EU): 1%; BOE (Anh): 0,5%; Nhật Bản 0,1%.

 

Giao dịch ngân hàng ở Việt Nam


Ngược lại ở Việt Nam, lãi suất huy động lẫn lãi suất cho vay vẫn đứng ở mức cao. Các doanh nghiệp phải vay vốn với lãi suất khoảng 14-16%/năm với kỳ hạn ngắn và khoảng 14,5-17%/năm với kỳ hạn trung, dài hạn.


Nếu tính đến lạm phát ước cho năm 2010 là dưới 10%, doanh nghiệp phải đạt mức tỷ suất lợi nhuận trên 24-27%, là mức cao so với tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu bình quân của các ngành trong năm 2009 (khoảng 20%).

Đầu tư trực tiếp nước ngoài giảm


Khủng hoảng nợ công châu Âu có thể tạo ra hai tac động trái chiều hoàn toàn với luồng vốn FDI trên phạm vi toàn cầu. Trong những quốc gia có trình độ phát triển tương đương với các nước thuộc EU sẽ hưởng lợi do nguồn vốn FDI sẽ dịch chuyển từ châu Âu sang các quốc gia này khi nhà đầu tư muốn tránh thuế thu nhập doanh nghiệp đang có xu hướng tăng cao tại các quốc gia châu Âu.


Ngược lại, các nước có trình độ phát triển thấp như Việt Nam lại hoàn toàn không được hưởng lợi từ việc dịch chuyển luồng vốn FDI khỏi châu Âu do sự chênh lệch quá lớn về trình độ công nghệ, trong khi luồng vốn từ các nhà đầu tư châu Âu vào các quốc gia này giảm sút do cuộc khủng hoảng nợ.

Giá vàng bùng nổ


Các nhà đầu tư trên thế giới đang tìm vàng như một nơi trú ẩn an toàn trước nguy cơ cuộc khủng hoảng nợ châu Âu ngày một lan rộng, làm cho giá vàng trong thời gian qua tăng mạnh, lên mức trên 1.300 USD/ounce. Điều này phản ánh nhu cầu về dự trữ an toàn hơn so với đồng tiền giấy, sau khi nhiều cá nhân và tổ chức ở châu Âu, châu Á đua nhau mua vàng, mua bạch kim và bạc.


Việc giá vàng tăng cùng với xu hướng tăng mạnh của đồng USD là điều ít khi xảy ra. Rất có thể sẽ tăng tới một kỷ lục mới trong thời gian tới và tạo sự tách biệt hoàn toàn giữa giá tài sản vàng và các tài sản khác. Điều này sẽ tác động xấu đến đầu tư toàn thế giới và Việt Nam bởi một khi vàng chiếm tỷ trọng lớn trong danh mục đầu tư của các tổ chức thì cũng đồng nghĩa với việc các danh mục khác như cổ phiếu, trái phiếu sẽ bị giảm mạnh. Như vậy, luồng vốn đầu tư gián tiếp càng trở nên hạn chế.

Bảo hiểm rủi ro tín dụng (CDS) xu hướng tăng lên


Vấn đề Hy Lạp đang làm cho các nhà đầu tư trên thế giới càng trở nên thận trọng hơn với các quốc gia có vấn nạn tương tự: 3 số liệu cảnh báo bao gồm: nợ quá nhiều, thể hiện ở tỷ lệ nợ trên GDP cao; chi tiêu quá mức, thể hiện ở mức thâm hụt ngân sách lớn so với GDP; và tốc độ tăng trưởng GDP sụt giảm.


Hệ quả là Việt Nam với tỷ lệ nợ cao, thâm hụt ngân sách triển miên đang bị các tổ chức tài chính quốc tế xếp vào mục rủi ro cao, với mức CDS là 263, xếp ngay trên Hy Lạp (321) và Iceland (466). Điều này sẽ là một cản trở rất lớn trong việc thu hút các luồng vốn đầu tư gián tiếp, trực tiếp và cho vay từ nước ngoài.

Biến động tỷ giá hối đoái sẽ rất khó lường


Khủng hoảng nợ châu Âu cũng tạo ra những biến động khó lường về tỷ giá. Đồng USD và đặc biệt là đồng Yên sẽ tiếp tục đà tăng mạnh so với đồng Euro do tính an toàn từ phía các đồng tiền này. Từ khi cuộc khủng hoảng có dấu hiệu nghiêm trọng, đồng Euro mất giá tương đối so với USD.

Sang tháng 6, tỷ giá USD/Euro chỉ còn 1,19, rất thấp so với mức xấp xỉ 1,4 của đầu tháng 3, do đó sẽ tạo ra những rủi ro nhất định trong việc vay, trả ngoại tệ cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu cũng như cho hoạt động ngoại hối của các ngân hàng thương mại.


Ngoài ra, đồng USD tăng giá mạnh trong khi thâm hụt thương mại của Việt Nam đang gia tăng, cộng với thời điểm đáo hạn của các khoản vay tín dụng ngoại tệ, sẽ gia tăng sức ép tăng rủi ro hối đoái và biến động tỷ giá vào các tháng cuối năm 2010.
 
Trước tình hình nợ công Châu Âu ngày càng tăng. E-info điểm lại tình hình phức tạp  sau:

Khủng hoảng nợ công Hy Lạp xảy ra đầu năm 2010, giới phân tích đã dự báo về sự lan rộng của nó đối với hệ thống tài chính kinh tế toàn cầu. Khủng hoảng nợ công Hy Lạp chỉ là một triệu chứng của khủng hoảng tín dụng trên toàn thế giới do việc bùng nổ cho vay dưới chuẩn hồi tháng 8/2006.


Người dân Hy Lạp biểu tình phản đối những chính sách kinh tế khắc khổ (Ảnh: AFP)


 
Khủng hoảng tài chính EU đã thật sự là dịch bệnh khi nó lan rộng đến Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và tiếp theo sẽ là Italy. Đây không phải là vấn đề châu lục, Liên minh châu Âu có thể tự mình xử lý mà đã trở thành một vấn đề mang tính toàn cầu bởi nó ảnh hưởng xấu đến tâm lý của giới đầu tư trên toàn thế giới.

Hy Lạp chính là khởi điểm của cơn sóng thần lan nhanh và đe dọa đến hệ thống tài chính kinh tế toàn cầu. Lẽ ra châu Âu phải xử lý cuộc khủng hoảng ngay từ khi nó mới manh nha xuất hiện nhưng tổ chức này đã liên tục trì hoãn.


Tân Thủ tướng Hy Lạp Lucas Papademos.


Dù rất nhiều cuộc họp cấp cao đã được tổ chức, những tuyên bố và kế hoạch đã được các nước châu Âu đưa ra, nhưng giờ đây, cuộc khủng hoảng nợ công đang bước vào một giai đoạn nguy hiểm mới khi thị trường mất niềm tin vào trái phiếu Italy. Italy đã chính thức trở thành tâm điểm mới của khủng hoảng nợ công châu Âu khi trái phiếu kỳ hạn 10 năm của nước này có lãi suất vượt 7,5% một năm - cao nhất kể từ khi đồng euro được đưa vào sử dụng năm 1999.

Theo thống kê của tờ Financial Times, giá trị thị trường trái phiếu của Italy hiện nay là khoảng 1.900 tỷ euro, quá lớn so với mức 440 tỷ của Quỹ ổn định tài chính châu Âu (EFSF), điều này cũng có nghĩa là EFSF chỉ đủ tiền để mua lại khoảng 20% số trái phiếu của Italy. Italy là nền kinh tế lớn thứ ba khu vực đồng Euro, lớn hơn rất nhiều Hy Lạp, Ireland hay Bồ Đào Nha, chính vì thế các nhà phân tích cho rằng, không thể có gói giải cứu nào đủ lớn cho Italy.

 

Ông Mario Monti, Thủ tướng mới tại Italy.

 

EU đã có kế hoạch giải cứu nợ công cho các nước. Đó là giải pháp nâng vốn ngân hàng thêm 106 tỷ euro và tăng EFSF lên 1.000 tỷ euro có thể sẽ giải quyết các tác động xấu từ Hy Lạp, nhưng giới phân tích thị trường cho rằng nó không thể đảm bảo châu Âu chịu đựng được những cú sốc từ Italy hay Tây Ban Nha. Vì vậy, rủi ro khủng hoảng nợ công biến thành khủng hoảng ngân hàng là rất lớn.

Hậu quả của cuộc khủng hoảng nợ công này là thủ tướng Ý và thủ tướng  Hy lạp phải từ chức. Tương lai quyền lực của các nhà lãnh đạo 19/75 nền kinh tế lớn nhất thế giới được nghiên cứu có nợ nước ngoài so với GDP dự kiến ở mức trên 100% và có 10 quốc gia đang có tỷ lệ nợ công so với GDP ở mức nguy hiểm sẽ ra sao. Bài toán khó đang đặt lên bàn cờ tài chánh thế giới.

                                                                                           

     MBA Lưu Hoàng Vân E-INFO

Đánh giá bài viết này
0
Bình luận (0 đã gửi)
tổng số: | đang hiển thị:
Gửi bình luận của bạn
  • In đậm
  • In nghiêng
  • Gạch chân
  • Trích dẫn
Xin hãy nhập các ký tự bạn nhìn thấy ở ảnh sau:
Captcha